Bản án 27/2020/HS-ST ngày 20/05/2020 về tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM

BẢN ÁN 27/2020/HS-ST NGÀY 20/05/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP VŨ KHÍ QUÂN DỤNG

Ngày 20 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2020/TLST-HS ngày 03 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2020, đối với bị cáo:

+ Mai Thanh T - sinh năm 1994; nơi cư trú: tổ dân phố ..., thị trấn IK, huyện IG, tỉnh Gia Lai ; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Thanh Th (đa chêt ) và bà Đồng Thị V; vơ, con: chưa co ; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 13/6/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 02/12/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai xử phạt 16 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong bản án ngày 25/7/2017. Bị cáo bị băt tạm giữ từ ngày 10/01/2020 đến ngày 19/01/2020 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: chị Mai Thanh T1 - sinh năm 1987; nơi cư trú: tổ dân phố 6, thị trấn IK, huyện IG, tỉnh Gia Lai, vắng mặt.

- Ngươi lam chưng:

1. Anh Chê Văn V1 - sinh năm 1994; vắng mặt.

2. Anh Mai Thanh Tr - sinh năm 1992; vắng mặt.

3. Ông Mai Thê T2 - sinh năm 1955; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Mai Thanh T, Chế Văn V1, Mai Thanh Tr và ông Mai Thế T2 cùng thuê nhà trọ của anh Trần Văn N - sinh năm 1976, ở tiểu khu CG, thị trấn KK, huyện TL, tỉnh Hà Nam. Khoảng 20 giờ ngày 09/01/2020, T điều khiển xe mô tô BKS 36K2-2... chở V1 từ nhà trọ đến nhà anh Trần Văn T ở tiểu khu LM, thị trấn KK để đòi nợ tiền khoan giếng. Khi đi, V1 mang theo 01 con dao gọt hoa quả, còn T lấy từ mái nhà trọ 01 khẩu súng tự chế bên trong có 03 viên đạn, bỏ vào túi áo khoác bên trong trước ngực, mục đích nếu xảy ra sự cố thì mang ra để hù dọa.

Sau khi anh Trần Văn T trả tiền xong cho Mai Thanh T thì hai bên xảy ra cãi chửi nhau. Do bực tức, V1 cầm chuôi dao mang theo đập vào mặt nạ phía trước xe mô tô BKS 90B1-978... của anh Trần Văn T, rồi cùng Mai Thanh T đi về nhà trọ. Về đến nhà trọ, Mai Thanh T cất giấu khẩu súng lên mái ngói nhà trọ. Khi Công an huyện Thanh Liêm triệu tập Mai Thanh T lên lấy lời khai về việc Chế Văn V1 dùng dao đập vào xe mô tô của anh Trần Văn T, thì Mai Thanh T đã khai nhận hành vi tàng trữ khẩu súng trên. Khoảng 01 giờ 15 phút ngày 10/01/2020, Cơ quan Canh sat điêu tra Công an huyện Thanh Liêm đa đên nha anh Trân Văn N là nơi Mai Thanh T ở trọ. Theo sư chi dân cua Mai Thanh T, Cơ quan Canh sat điêu tra Công an huyện Thanh Liêm đa phát hiện, thu giư 01 khâu sung tự chế bên trong co 03 viên đan. Công an huyện Thanh Liêm đa tiên hành thu giư khâu sung cung sô đan trên va lâp biên ban theo quy đinh cua phap luât.

* Vật chứng, tài sản thu giữ gồm:

- Thu tại dưới cạnh mái ngói: 01 vật kim loai mau đen hình súng (dạng côn quay), trong đo nong sung dai 4,5cm, đương kinh rông 1cm, thân sung kich thươc (8x4,6)cm, báng súng có kích thước (6x3x1,1)cm trong tinh trang không có cò, bên trong ô tiêp đan co 03 viên đan.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A1K màu đen, do chi Mai Thanh T1 giao nôp.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Mai Thanh T tại tiểu khu CG, thị trấn KK, huyện TL, tỉnh Hà Nam, Cơ quan điều tra không thu giư gi.

Tại bản Kết luận giám định số 250/C09-P3 ngày 14/01/2020 của Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:

“- Mẫu vật hình dạng súng gửi giám định là súng tự chế kiểu ổ quay bắn đạn cỡ 5,6x15,5mm thuộc vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng, không phải vũ khí quân dụng.

- 03 mẫu vật hình viên đạn gửi giám định là đạn cỡ 5,6x15,5mm, không phải vũ khí quân dụng và sử dụng lắp bắn được cho khẩu súng nêu trên.

- Hiện tại súng và đạn còn sử dụng để bắn được.”

* Về nguồn gốc khẩu súng đã thu giữ: Mai Thanh T khai nhận, vào khoảng đầu năm 2019, T lên huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội chơi với bạn là Đỗ Quốc N - sinh năm 1996 ở cùng quê với T, hiện đang làm thuê tại đó. Tại đây, thấy N có khẩu súng tự chế nên T đã mua lại khẩu súng cùng 03 viên đạn của N với giá 2.000.000 đồng để phòng thân. Sau đó, T mang về cất giấu tại nhà trọ của anh Trần Văn N, đến ngày 10/01/2020 thì bị phát hiện và thu giữ. Cơ quan An ninh điều tra - Công an tỉnh Hà Nam đã tiến hành xác minh và xác định khẩu súng cùng 03 viên đạn nói trên không liên quan đến vụ án, vụ việc nào; không có đơn vị, địa phương nào quản lý, sử dụng, cấp phép cho khẩu súng cùng 03 viên đạn trên.

Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKS-P1 ngày 03/4/2020, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đã truy tố Mai Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép vu khi quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự.

* Tại phiên tòa:

- Thực hiện sự phân công của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Mai Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 của Bộ luật Hình sự - xử phạt Mai Thanh T từ 30 đến 36 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo, buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định. Về xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu huy 01 khẩu súng tư chê kiêu ổ quay, giao cho Ban chỉ huy quân sự huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam xử lý theo quy định; trả lại cho chị Mai Thanh T1 01 điên thoai di động nhãn hiệu OPPO A1K màu đen.

- Bị cáo Mai Thanh T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, Mai Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: khoảng 01 giờ 15 phút ngày 10/01/2020, tại nhà trọ của anh Trân Văn N thuôc tiêu khu CG, thị trấn KK, huyện TL, tỉnh Hà Nam, Cơ quan Canh sat điêu tra Công an huyện Thanh Liêm phát hiện Mai Thanh T có hành vi tàng trữ trái phép 01 khâu sung tư chê kiêu ô quay băn đan cơ 5,6x15,5mm thuôc vu khi co tinh năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụ ng cùng 03 viên đạn cỡ 5,6x15,5mm lắp trong khẩu súng.

[3] Hành vi nêu trên của Mai Thanh T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý vũ khí quân dụng của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Căn cứ vào quy định tại điểm b khoản 2 Điều 1 Luật số 50/2019/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ ngày 25/11/2019 của Quốc hội, có hiệu lực từ ngày 10/01/2020, thì khẩu súng tự chế nêu trên là “vũ khí quân dụng”. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử kết luận: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam truy tố Mai Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng ” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 của Bộ luật Hình sự, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt:

Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Qua xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: bị cáo là người có nhân thân xấu, đa 02 lân bị kết án về tội “Trôm căp tai sản” nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện, tu dưỡng bản thân trở thành người có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội, thể hiện sự coi thường pháp luật, không chịu cải tạo. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và đã bị áp dụng hình phạt tù, nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 khâu sung tự chế hiện không có giá trị, nên sẽ tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ khoản 4, khoản 5 Điều 66 của Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, cần giao cho Ban chi huy quân sự huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam xử lý theo quy định.

- Đối với 03 viên đạn: quá trình giám định, cơ quan giám định đã sử dụng hết 03 viên đạn trên, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A1K màu đen: quá trình điều tra đã xác định đây là tài sản hợp pháp của chị Mai Thanh T1, không liên quan đến tội phạm, nên căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự cần trả lại cho chị T1.

[6] Về các vấn đề khác:

- Đối với Đỗ Quốc N là người mà Mai Thanh T khai đã bán súng tự chế cho T: do N không co măt tai đia phương, gia đinh cung không biêt N đi đâu, làm gì, nên Cơ quan điều tra chưa co đu căn cứ đê xư ly trong vu an nay . Cơ quan điêu tra đa ra thông bao truy tim Đô Quôc N, khi nao phat hiên va đu căn cứ se xư ly theo quy đinh cua phap luât.

- Đối với Chế Văn V1, Mai Thanh Tr, Mai Thế T2 là người biết Mai Thanh T tàng trữ khẩu súng trên, nhưng đều nghĩ rằng đó là súng tự chế, không biết có sử dụng được không, nên không tố giác với cơ quan có thẩm quyền. Vì vậy, Cơ quan điều tra không xử lý đối với những người này là đúng pháp luật.

- Đối với hành vi Chế Văn V1 dùng chuôi dao đập vào mặt nạ xe mô tô của anh Trần Văn T, Cơ quan điều tra đã tách hành vi trên để xử lý theo quy định là đúng pháp luật.

[7] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điều 106 và 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

1. Tuyên bố: bị cáo Mai Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

- Xử phạt bị cáo Mai Thanh T 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là 10/01/2020.

2. Xử lý vật chứng: trả lại cho chị Mai Thanh T1 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A1K màu đen; tịch thu, tiêu hủy 01 khẩu súng tự chế kiểu ổ quay, giao cho Ban chỉ huy quân sự huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam xử lý theo quy định (Chi tiết vật chứng như trong 02 Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 03/4/2020 giữa Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Hà Nam với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Liêm).

3. Án phí: bị cáo Mai Thanh T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”./.


8
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về