Bản án 27/2020/HS-ST ngày 12/05/2020 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG 

BẢN ÁN 27/2020/HS-ST NGÀY 12/05/2020 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 12 tháng 5 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 25/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyn Thị X, sinh năm 1981 tại huyện G, tỉnh Hải Dương. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn A, xã T, huyện M, tỉnh Hải Dương; nơi tạm trú: Thôn C, xã K, huyện G, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình L và bà Phạm Thị T1; có chồng là Phan Văn L1 và có 03 con; tiền án, tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 15/3/2018, bị Công an huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "bán bảng đề, ấn phẩm khác cho việc bán lô đề", chấp hành xong ngày 21/3/2018, đã được xoá.

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh Vũ Minh H, sinh năm 1988; trú tại: Thôn C, xã K, huyện G, tỉnh Hải Dương; (vắng mặt)

2. Anh Lê Văn K1, sinh năm 1998; trú tại: Thôn Đ, xã H1, huyện G, tỉnh Hải Dương; (vắng mặt) 

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 01/6/2018, Nguyễn Thị X có ký hợp đồng làm đại lý bán vé xổ số kiến thiết với Công ty TNHH một thành viên Xổ số kiến thiết Hải Dương. Hằng ngày Nguyễn Thị X bán vé xổ số tại khu vực chợ Cốc thôn Gia Bùi, xã Gia Khánh, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Khoảng tháng 11/2019, có một người đàn ông khoảng 40 tuổi tự giới thiệu tên là Tưởng (không biết họ tên, địa chỉ) đến gặp và đề nghị X bán số lô, số đề cho người chơi lô đề và chuyển bảng số lô, số đề cho Tưởng để hưởng hoa hồng theo tỷ lệ 25% tiền số đề và 01% tiền số lô bán được. Việc tính thắng thua khi chơi lô đề thì căn cứ vào kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng vào lúc 18 giờ 15 phút hằng ngày; số đề là số có hai chữ số gồm chữ số hàng chục và chữ số hàng đơn vị của giải đặc biệt, số đề ba càng là số có ba chữ số gồm chữ số hàng trăm, hàng chục và hàng đơn vị của giải đặc biệt; số lô là số có hai chữ số gồm chữ số hàng chục và hàng đơn vị của một trong 27 giải từ giải đặc biệt đến giải bẩy; lô xiên là bộ số gồm nhiều số lô như lô xiên 2 (gồm 2 số lô), lô xiên 3 (gồm 3 số lô), lô xiên 4 (gồm 4 số lô),... người chơi sử dụng tiền mua các số tự nhiên tuỳ ý trước giờ mở thưởng cùng ngày. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc, người chơi so sánh số đã mua với kết quả cùng ngày, nếu người chơi đã mua các số lô, số đề trùng với các số lô, số đề cùng ngày (gọi là trúng lô, trúng đề) thì được nhận thưởng bằng tiền theo tỷ lệ: Đề 1 x 70 lần (chơi 1.000đ thắng 70.000đ); đề 3 càng 1 x 400 (chơi 1.000đ thắng 400.000đ); lô 1 x 3,5 lần (1 điểm là 20.000đ, chơi 1 điểm thắng 70.000đ); lô xiên 2: 1 x 10 lần (chơi 1.000đ thắng 10.000đ); lô xiên 3: 1 x 40 (chơi 1.000đ thắng 40.000đ); lô xiên 4: 1 x 100 (chơi 1.000đ thắng 100.000đ). Người mua lô đề phải thanh toán tiền ngay tại thời điểm mua, nếu không trúng thì mất số tiền đã mua, nếu trúng thì sẽ được người bán thanh toán cho người mua vào ngày hôm sau. Khoảng 18 giờ hằng ngày thì Tưởng sẽ đến thu bảng lô đề mà X đã ghi được trong ngày và thanh toán tiền của ngày liền trước, X đồng ý. Khoảng 17 giờ ngày 16/01/2020, Vũ Minh H đến gặp X mua các số lô, số đề cụ thể như sau: Mua 02 số lô 16, 61 mỗi số 50 điểm (01 điểm là 20.000 đồng) tương ứng với số tiền là 2.000.000 đồng; 02 số đề 16, 61 mỗi số 100.000 đồng tương ứng với số tiền là 200.000 đồng; 02 bộ số lô xiên 3 là (16, 61, 00) và (16, 22, 08) mỗi bộ số 100.000 đồng tương ứng với số tiền là 200.000 đồng; tổng cộng là 2.400.000 đồng. X sử dụng bút bi mực màu xanh ghi các số lô, số đề H mua vào 01 tờ vé lô tô có kích thước 6x7,5 cm gọi là tích kê đưa cho H đồng thời ghi các số lô, số đề bán cho H vào 01 tờ giấy có kích thước 21x15 cm là loại mẫu "Bảng kê dự thưởng xổ số lô tô" (gọi là bảng số lô, số đề) để giữ lại. H nhận tích kê và đưa cho X số tiền 2.400.000 đồng, X nhận tiền H đưa và cất đi. Tiếp đó có Lê Văn K1 đến mua các số lô, số đề của X gồm: 02 số lô 98, 72 mỗi số 50 điểm tổng là 2.000.000 đồng; 04 số đề 98, 89, 27, 72 mỗi số 200.000 đồng tổng là 800.000 đồng; một bộ lô xiên 4 (98, 72, 19, 34) 200.000 đồng; tổng cộng là 3.000.000 đồng. X lại sử dụng bút bi màu xanh ghi các số lô, số đề K1 mua vào 01 mảnh giấy kích thước 4x5 cm gọi là tích kê đưa cho K1 và ghi lại các số này vào bảng số lô, số đề. K1 cầm tích kê và đưa cho X số tiền 3.000.000 đồng, khi K1 để số tiền này trên bàn của X thì lực lượng Công an huyện Gia Lộc phát hiện, lập biên bản vụ việc đối với Nguyễn Thị X, Lê Văn K1 và Vũ Minh H vào hồi 17 giờ 15 phút cùng ngày. Thu giữ của H, K1 mỗi người 01 tích kê có ghi các số lô, số đề bằng mực màu xanh; thu giữ của X 01 bảng số lô, số đề có ghi các số lô, số đề bằng mực màu xanh, 01 bút bi màu xanh nhãn hiệu "matixs FO- 024" mực xanh, 01 quyển sổ bìa màu xanh loại 360 trang có 62 trang giấy viết các số tự nhiên; thu giữ của K1 số tiền 3.000.000 đồng vừa để trên bàn và X tự nguyện nộp lại số tiền 2.400.000 đồng vừa nhận của H.

Kết luận giám định số 11/KLGĐ ngày 17/02/2020, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chữ viết trên "Bảng kê dự thưởng xổ số lô tô" thu của Nguyễn Thị X và chữ viết trên 02 tờ tích kê thu được của Lê Văn K1 và Vũ Minh H là tài liệu cần giám định với chữ viết mang tên Nguyễn Thị X trên các tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người viết ra.

Cáo trạng số 26/CT-VKS ngày 19/3/2020, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện Gia Lộc truy tố bị cáo Nguyễn Thị X về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên toà:

Đại diện VKSND huyện Gia Lộc giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Toà án: Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1, 2, 3 Điều 36; các điểm a, b khoản 1 Điều 47 BLHS; các điểm a, b khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị X phạm tội "Đánh bạc". Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị X từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã Gia Khánh, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Khấu trừ của bị cáo từ 10% đến 15% thu nhập hàng tháng để sung quỹ Nhà nước trong thời gian cải tạo không giam giữ. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị X từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng sung vào ngân sách Nhà nước. Về vật chứng: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 5.400.000 đồng; tịch thu tiêu huỷ 01 bút bi màu xanh nhãn hiệu "matixs FO-024", 01 quyển sổ bìa màu xanh loại 360 trang có 62 trang giấy viết các số tự nhiên. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, xác định quyết định truy tố, luận tội của VKSND huyện Gia Lộc đối với bị cáo là đúng và nói lời sau cùng đề nghị Toà án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được xác định là hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, biên bản vụ việc và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 16/01/2020, tại chợ Cốc thôn Gia Bùi, xã Gia Khánh, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, Nguyễn Thị X có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức bán số lô, số đề cho Vũ Minh H với số tiền 2.400.000 đồng và bán số lô, số đề cho Lê Văn K1 với số tiền 3.000.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc giữa X với H và K1 là 5.400.000 đồng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi đánh bạc trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn thu lợi bất chính bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 5.400.000 đồng nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "đánh bạc" theo quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS. Như vậy, Quyết định truy tố của VKSND huyện Gia Lộc đối với bị cáo là có căn cứ.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự an toàn công cộng, nếp sống văn minh của xã hội; nạn chơi lô đề là một trong những nguyên nhân dẫn đến cảnh nợ nần, đổ vỡ hạnh phúc gia đình, dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật khác; bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "bán bảng đề, ấn phẩm khác cho việc bán lô đề" tuy đã được xoá nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cảnh tỉnh để tự tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà nay còn tiếp tục phạm tội nên cần thiết phải áp dụng một hình phạt nghiêm thì mới đủ tác dụng giáo dục, trừng trị, răn đe và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, lần phạm tội này của bị cáo là lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[6] Ngày 15/3/2018, bị Công an huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi "bán bảng đề, ấn phẩm khác cho việc bán lô đề", bị cáo chấp hành xong ngày 21/3/2018; đến ngày 21/3/2019 đã được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính tính đến ngày phạm tội lần này (ngày 16/01/2020) đã quá 06 tháng nên được coi là có nhân thân tốt. Bị cáo lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, lại đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi nên không cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo không giam giữ đồng thời khấu trừ một phần thu nhập của bị cáo là phù hợp.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội với mục đích thu lợi nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về vật chứng vụ án: Số tiền 5.400.000 đồng là tiền đánh bạc giữa bị cáo và những người chơi lô đề nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với 01 bút màu xanh nhãn hiệu "matixs FO-024", 01 quyển sổ bìa màu xanh loại 360 trang có 62 trang giấy viết các số tự nhiên có chữ ký của bị cáo ghi kết quả xổ số để so sánh số lô, số đề là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu huỷ; các tích kê và bảng ghi số lô, số đề là vật chứng chứng minh tội phạm nên cần lưu tại hồ sơ vụ án.

[8] Đối với Vũ Minh H, Lê Văn K1 là người mua số lô, số đề của bị cáo nhưng số tiền sử dụng để đánh bạc của H và K1 đều dưới 5.000.000 đồng, Cơ quan điều tra đã xác minh lý lịch và Công an huyện Gia Lộc đã xử phạt vi phạm hành chính đối với K1 và H là đúng quy định của pháp luật. Đối với đối tượng tên Tưởng thuê bị cáo bán số lô, số đề quá trình điều tra không xác định được là ai nên không có căn cứ xử lý. Quá trình điều tra, bị cáo khai trong ngày 16/01/2020 ngoài hành vi bán số lô, số đề cho H và K1 ra, bị cáo còn bán số lô, số đề cho những người khác nhưng không biết họ là ai, cơ quan điều tra chưa xác định được là ai và tiếp tục điều tra xử lý sau.

[9] Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36; các điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, b khoản 2 Điều 106, các điều 135, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị X phạm tội "Đánh bạc".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị X 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ; thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Uỷ ban nhân dân (UBND) xã Gia Khánh, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Khấu trừ 10% thu nhập hàng tháng của bị cáo để sung quỹ Nhà nước trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Nguyễn Thị X cho UBND xã Gia Khánh, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã Gia Khánh, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

2. Hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị X 10.000.000đ (mười triệu đồng) sung vào ngân sách Nhà nước.

3. Về vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 5.400.000đ (năm triệu bốn trăm nghìn đồng). Tịch thu tiêu huỷ 01 bút màu xanh nhãn hiệu "matixs FO-024" mực xanh, 01 quyển sổ bìa màu xanh loại 360 trang có 62 trang giấy viết các số tự nhiên có chữ ký của bị cáo Nguyễn Thị X. (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Gia Lộc và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc ngày 03 tháng 4 năm 2020).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thị X phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


18
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 27/2020/HS-ST ngày 12/05/2020 về tội đánh bạc

Số hiệu:27/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Gia Lộc - Hải Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 12/05/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về