Bản án 27/2020/HSST ngày 11/06/2020 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 27/2020/HSST NGÀY 11/06/2020 VỀ TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN

Ngày 11 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 27/2020/TLST - HS ngày 21 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2020/QĐXXST – HS ngày 29 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo: Lê Văn Ph, sinh năm 1992, tại Ninh Bình; nơi ĐKNKTT: Xóm 11, xã Khánh Thịnh, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12;

dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn Th ( đã chết); con bà Đinh Thị Q; Vợ Trần Thị Lan A, con có 1 con sinh năm 2016; Tiền án: Tại bản án số 13/2019/HSST ngày 05/7/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xử phạt bị cáo 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, án phí 200.000đồng, bị cáo đang chấp hành thời gian thử thách.( đối với bản án số 13/2019/HSST của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái, bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/3/2019 đến ngày 05/7/2019 được trả tự do tại phiên tòa) Tiền sự: không. Hiện đang tạm giam tại trại tạm giam công an tỉnh Ninh Bình từ ngày 11/3/2020, bị cáo có mặt.

+ Bị hại:

- Anh Nguyễn Hoài N, sinh năm 1984, trú tại thị trấn Tiền Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (vắng mặt)

- Anh Trần Văn M, sinh năm 1978, trú tại phường Hùng Thắng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh ( vắng mặt)

- Anh Nguyễn Vị Th, sinh năm 1977, trú tại 114A1, Tôn Thất Tùng, phường Bến Thành, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh ( vắng mặt)

+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ông Vũ Đức A sinh năm 1970, trú tại phố Bắc Yên, thị trấn Yên Thịnh, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình ( Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn Ph là người đã bị kết án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” chưa được xóa án tích. Do cần tiền để tiêu sài cá nhân, Ph đã dùng thủ đoạn gian dối là tải các video chim cảnh trên mạng xã hội Youtube.com về điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5, lắp sim số thuê bao 0344254643 của mình và đăng tải trên mạng xã hội ở nhóm “ Hội chim đột biến gen” và trên trang cá nhân tài khoản Facebook “Vu Duc Anh” của Ph rao bán chim cảnh nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác.

Trong các ngày 13/01/2020, 19/01/2020 và 20/01/2020 và 21/01/2020 Phong đã thực hiện các hành vi lừa đảo như sau:

Lần thứ nhất: Ngày 08/01/2020, anh Nguyễn Hoài N sinh năm 1984, trú tại thị trấn Tiền Hải, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình sử dụng tài khoản Facebook có tên “ Nguyễn Nam” tham gia nhóm Facebook “ Hội chim đột biến gen”, thấy trong nhóm có đăng bán chim từ tài khoản Facebook “Vu Duc Anh” của Ph. Do có nhu cầu mua chim Chào Mào nên anh Nam sử dụng tài khoản Facebook “ Nguyên Nam” nhắn tin qua ứng dụng Messenger đến tài khoản Facebook“ Vu Duc Anh” hỏi mua chim chào mào của Ph. Ngày 10/01/2020, Ph đang ngồi tại quán Internet của ông Vũ Đức A, sinh năm 1970, trú tại tổ dân phố Bắc Yên, thị trấn Yên Thịnh, Yên Mô, Ninh Bình. Ph thỏa thuận bán cho anh N một con chim chào mào giống cái đột biến với giá 10.000.000 đồng. Anh N đồng ý mua chim với giá 10.000.000 đồng và chuyển tiền cọc trước là 2.000.000 đồng và hẹn hôm sau Ph gửi chim cho anh N sẽ chuyển nốt số tiền 8.000.000 đồng. Ph nhắn tin cho anh N chuyển tiền đặt cọc đến số tài khoản 230011335009 Ngân hàng MB Bank, đây là tài khoản của ông Vũ Đức A như đã nêu trên, là người làm dịch vụ chuyển tiền. Sau đó, Ph báo cho ông Vũ Đức A là nếu có người chuyển 2.000.000 đồng mua chim thì chuyển số tiền này cho Ph. Hồi 11 giờ 12 phút ngày 13/01/2020 anh Nguyễn Hoài N dùng ứng dụng E- MobileBanking của Ngân hàng Agribank có số tài khoản 3404205184314 trên điện thoại di động của mình chuyển số tiền 2.000.000đồng đặt cọc mua chim của Ph đến số tài khoản 230011335009 của Ngân hàng MBank, Ph đã gửi cho anh N trước đó. Sau khi nhận được tiền ông Vũ Đức A đã đưa cho Ph 2.000.000đồng, Ph trả phí chuyển tiền cho ông A 15.000 đồng. Khi nhận được tiền đặt cọc mua chim của anh N, Ph không giao chim cho anh N như đã thỏa thuận và Ph chặn liên lạc với tài khoản Facebook “ Nguyễn Nam”, số tiền 2.000.000đồng Ph tiêu sài cho cá nhân hết.

Lần thứ hai: Ngày 19/01/2020 anh Trần Văn M, sinh năm 1978 trú tại B19 GreenBayVillage, phường Hùng Thắng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, sử dụng tài khoản Facebook có tên“ Tran Minh” tham gia nhóm Facebook “ Hội chim đột biến gen”, thấy trong nhóm có đăng bán chim từ tài khoản Facebook “Vu Duc Anh” của Phong. Anh M đăng nhập bằng tài khoản “Tran Minh” nhắn tin qua ứng dụng Messenger đến tài khoản Facebook “Vu Duc Anh” hỏi mua chim Chòe Lửa. Anh M thỏa thuận mua 01 con chim chòe lửa với giá 10.000.000đồng, Ph yêu cầu anh M chuyển đặt cọc trước 4.000.000đồng để gửi chim, khi nào nhận được chim thì anh M sẽ thanh toán nốt số tiền 6.000.000 đồng. Ph yêu cầu anh M chuyển số tiền đặt cọc vào số tài khoản của ông Vũ Đức A. Hồi 21 giờ 05 phút ngày 19/01/2020 anh M dùng ứng dụng SmartBanking của ngân hàng BIDV số tài khoản 4481000013666 trên điện thoại di động của mình chuyển số tiền 4.000.000 đồng đặt cọc mua chim đến số tài khoản 2300113350009 của ngân hàng MB Bank cho Ph. Khi chuyển tiền xong tiền anh M đã nhắn tin báo cho Ph. Sáng 20/01/2020, Ph dùng điện thoại di động của mình lên mạng Internet tải ảnh xe khách đi tuyến Nghệ An- Quảng Ninh rồi tiếp tục nhắn tin gửi hình ảnh xe khách cho anh M nói dối là đã gửi chim lên xe, đồng thời gửi cho anh M số điện thoại 0815924785 nói dối là số điện thoại của nhà xe và yêu cầu anh M chuyển thêm cho Ph 1.000.000đồng đến số tài khoản trên, anh M đồng ý. Hồi 8 giờ 10 phút ngày 20/01/2020 anh M tiếp tục chuyển thêm cho Ph 1.000.000đồng theo yêu cầu của Ph. Cùng ngày, ông Vũ Đức A nhận được tiền chuyển đến tài khoản của mình tổng hai lần là 5.000.000đồng, ông A đã đưa cho Ph 5.000.000đồng, Ph trả tiền phí 15.000đồng cho ông A. Sau khi nhận được tiền Ph không thực hiện việc giao chim cho anh M và chặn liên lạc với tài khoản Facebook “ Tran Minh”, Phong đã tiêu sài cá nhân hết số tiền 5.000.000 đồng.

Lần thứ ba: Ngày 21/01/2020, anh Nguyễn Vị Th , sinh năm 1977, trú tại 114A1 Tôn Thất Tùng, phường Bến Thành, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh sử dụng tài khoản Facebook “ Nguyễn Thúc” tham gia “ Hội chim đột biên gen”, anh Thúc đã dùng tài khoản Facebook của mình nhắn tin đến tài khoản Facebook “ Vu Duc Anh” của Ph, hỏi mua Ph chim Chào Mào bông giống đực.

Phong gửi 02 video chim cảnh cho anh Th xem, sau đó anh Th đồng ý mua 02 con chim Chào Mào của Ph với giá 30.000.000đồng. Anh Th hỏi mua tiếp 01 con chim Chèo Lửa của Ph với giá 15.000.000 đồng, tổng số tiền 03 con chim là 45.000.000 đồng. Ph yêu cầu anh Th chuyển 5.000.000đồng tiền đặt cọc mua chim và sẽ gửi chim bằng xe khách cho anh Th, khi nào anh Thúc nhận được chim sẽ chuyển nốt số tiền còn lại, anh Th đồng ý. Ph nhắn tin cho anh Th chuyển tiền đặt cọc đến số tài khoản của ông Vũ Đức A. Hồi 14 giờ 46 phút ngày 21/01/2020 anh Th chuyển số tiền 5.000.000 đồng thông qua ứng dụng thanh toán Banking trên điện thoại di động từ số tài khoản 081100088999, ngân hàng Vietcombank của anh Th đến số tài khoản 2300113350009 ngân hàng MB Bank của ông Vũ Đức A cho Ph. Sau khi chuyển tiền xong, anh Th nhắn tin cho Ph biết. Ph nhắn cho anh Th số điện thoại 0865298505, là số điện thoại của Ph nhưng Ph nói dối là số điện thoại của nhà xe và nói là chim đã chuyển đi. Khi anh Th điện thoại vào số Ph đã cho thì Ph nghe máy và nói dối là nhân viên nhà xe để anh Th tin tưởng. Ph tiếp tục nhắn tin yêu cầu anh Th chuyển thêm 3.000.000 đồng theo số tài khoản trên, anh Th nghi ngờ Ph lừa đảo nên không đồng ý và yêu cầu Ph trả lại số tiền 5.000.000 đồng tiền đặt cọc. Ph đã không trả lại tiền cho anh Th, đồng thời chặn mọi liên lạc với số điện thoại của anh Th. Ông Vũ Đức A nhận được 5.000.000đồng chuyển đến tài khoản của mình đã đưa lại cho Ph, Ph trả tiền phí 15.000đồng cho ông A. Số tiền 5.000.000 đồng này, Ph đã tiêu sài cá nhân hết.

Anh Nguyễn Hoài N, Trần Văn M và Nguyễn Vị Th có đơn trình báo đến Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Mô.

Cơ quan CSĐT Công an huyện Yên Mô tiến hành triệu tập Lê Văn Phong đến làm việc, tại Cơ quan CSĐT Phong khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số: 28/CT – VKS ngày 20 tháng 5 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đã truy tố bị can Lê Văn Ph ra trước Tòa án nhân dân huyện Yên Mô để xét xử về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Lê Văn Ph phạm tội " Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".

Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự: Xử phạt Lê Văn Ph từ 09 đến 12 tháng tù. Tổng hợp với 06 tháng tù cho hưởng án treo, (được trừ đi 3 tháng 14 ngày tạm giam còn lại phải chấp hành là 2 tháng 16 ngày) tại bản án số 13/2019/HSST ngày 05/7/2019 của TAND thị xã Nghĩa Lộ tỉnh Yên Bái, thời gian phạt tù tính từ ngày tạm giam 11/3/2020.

Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ Luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106 tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động Ịphone 5 vỏ mầu đen, số IMEL 013352000279927:

Về án phí hình sự: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án. Buộc bị cáo Lê Văn Ph phải chịu án phí hình sự 200.000 đồng.

Bị cáo cho rằng bị xét xử là đúng người, đúng tội và đề nghị được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Mô; Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo, người bị hại và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để xác định, do không có tiền tiêu sài nên Lê Văn Ph đã dùng thủ đoạn gian dối, tải video và hình ảnh các loại chim và đăng tải lên mạng xã hội trong nhóm “ Hội chim đột biến gien” và trên trang Facebook cá nhân “ Vu Duc Anh” để đăng nhập, giao bán và thỏa thuận với anh Nguyễn Hoài N, trú tại thị trấn Tiền Hải, tỉnh Thái Bình vào hồi 11 giờ 12 phút ngày 13/01/2020 chiếm đoạt số tiền 2.000.000đồng của anh N; Cũng với thủ đoạn gian dối như trên vào 21 giờ 05 phút ngày 19/01/2020 và 8 giờ ngày 20/01/2020 Phong đã lừa bán chim Chòe Lửa cho anh Trần Văn M sinh năm 1978 trú tại B19 GreenBayVillage, phường Hùng Thắng, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh để chiếm đoạt số tiền 5.000.000đồng; Lần thứ 3 vào khoảng 14 giờ 46 phút ngày 21/01/2020 Ph lừa bán chim Chào Mào và Chòe Lửa cho anh Nguyễn Vị Th, sinh năm 1977, trú tại 114A1 Tôn Thất Tùng, phường Bến Thành, Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh và chiếm đoạt số tiền 5.000.000đồng. Tổng số tiền Phong chiếm đoạt của anh N, anh M và anh Th số tiền là 12.000.000 đồng Lê Văn Ph là người có đầy đủ khả năng để nhận thức, biết rõ việc lừa đảo chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng để có tiền tiêu sài cho bản thân Ph đã dùng thủ đoạn gian dối làm cho người bị hại tin là thật để chuyển tiền cho Ph, Ph đã chiếm đoạt số tiền 12.000.000đồng của những người bị hại. Hành vi phạm tội của Lê Văn Ph đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự Tại khoản 1 Điều 174 BLHS quy định“ Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a…” [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản là khách thể được pháp luật bảo vệ, không những thế còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh mạng ( việc mua bán trên mạng Facebook). Vì vậy cần phải xử lý nghiêm minh bằng một bản án hình sự, để giáo dục cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo; bị cáo và gia đình đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho những người bị hại nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

[5] Về tình tiết tăng nặng: Tại bản án số 13/2019/HSST ngày 05/7/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xử phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án. Bị cáo đang thi hành bản án. Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa chấp hành xong bản án, như vậy lần phạm tội này là tái phạm nên, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “ Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo liên tiếp 03 lần thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, như vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng” Phạm tội từ hai lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Hội Đồng xét xử xét thấy bị cáo là người đã từng bị xét xử về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân, nay lại phạm tội chiếm đoạt tài sản, do đó cần thiết phải cách ly bị cáo một thời gian nhất định để bị cáo chịu sự quản lý giáo dục của Nhà nước, có như vậy mới có khả năng cải tạo để bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình, có hướng sửa chữa trở thành công dân tốt.

[7] Về tổng hợp bản án: Bị cáo Lê Văn Ph bị Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xử phạt 06 tháng tù, cho hưởng án treo về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án. Bị cáo đang hành bản án. Tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội, Ph chưa chấp hành xong bản án. Như vậy thời gian 06 tháng tù cho hưởng án treo được chuyển thành 06 tháng tù giam, do bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/3/2019 đến ngày 05/7/2019 được trả tự do tại phiên tòa, thời gian tạm giam này là 3 tháng 14 ngày được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự buộc bị cáo phải chấp hành.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Lê Văn Ph và gia đình đã bồi thường cho những người bị hại số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt, những người bị hại không có ý kiến gì về bồi thường thiệt hại, do đó không phải xem xét giải quyết đối với phần trách nhiệm dân sự.

[9] Trong vụ án này có ông Vũ Đức A là chủ tài khoản 2300113350009 ngân hàng MB Bank và là tài khoản mà Lê Văn Ph cung cấp cho những người bị hại, chuyển tiền đặt cọc mua chim. Ông Vũ Đức A làm dịch vụ chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng để lấy phí dịch vụ chuyển tiền, khi nhận tiền ông Đức A không biết việc Ph lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Do vậy, ông Vũ Đức A không phạm tội.

[10] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Yên Mô tiến hành thu giữ một điện thoại di động Iphone 5, vỏ mầu đen, số IMEI:013352000279927 lắp số thuê bào 0815924785 là chiếc điện thoại mà Phong dùng vào việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước.

+ Đối với chiếc sim điện thoại số thuê bao 0344254643 là số điện thoại Ph dùng để đăng ký tài khoản Facebook “ Vu Duc Anh”, Ph khai đã làm mất nên CQĐT không thu giữ được.

+ Đối với chiếc sim điện thoại 0865298505 là số điện thoại Ph gửi cho anh Nguyễn Vị Th nói dối là số điện thoại của nhà xe Ph gửi chim, sau khi sử dụng Ph đã hủy bỏ nên CQĐT không thu giữ được.

[11] Bị cáo bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

[12] Bị cáo; người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; khoản 2 Điều 56; Khoản 5 Điều 65; khoản 1 Điều 47 Bộ Luật hình sự; khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn Ph phạm tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” 2. Xử phạt: Bị cáo Lê Văn Ph 09 (Chín) tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

3. Tổng hợp hình phạt: Tại bản án số 13/2019/HSST ngày 05/7/2019 của Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái xử phạt Ph 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án, bị cáo đang chấp hành thời gian thử thách thì phạm tội mới. Như vậy thời gian 06 tháng tù cho hưởng án treo được chuyển thành 06 tháng tù giam ( do bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/3/2019 đến ngày 05/7/2019 được trả tự do ngay tại phiên tòa, thời gian tạm giam là 3 tháng 14 ngày được trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù; thời gian còn lại là 2 tháng 16 ngày tù) và tổng hợp với hình phạt của bản án này buộc Ph phải chấp hành chung là: 11( mười một) tháng 16 ( mười sáu) ngày tù, thời gian phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 11/3/2020.

4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphonne 5, vỏ màu đen, số IMEI: 013352000279927.

Tịch thu tiêu hủy thẻ sim có số thuê bao 0815924785.

( Chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/5/2020 giữa Công an huyện Yên Mô với Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô)

5. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Văn Ph phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm Án xử công khai sơ thẩm báo để bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


36
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 27/2020/HSST ngày 11/06/2020 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Số hiệu:27/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Mô - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:11/06/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về