Bản án 27/2020/HS-PT ngày 25/02/2020 về tội vi phạm quy định bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 27/2020/HS-PT NGÀY 25/02/2020 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH BẢO VỆ ĐỘNG VẬT NGUY CẤP, QUÝ, HIẾM

Ngày 25 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 134/2019/HS-PT ngày 02/12/2019 đối với bi cao Nguyễn Đức H, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 50/2019/HS-ST ngày 10/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hương S, tỉnh Hà Tĩnh.

- Bị cáo kháng cáo:

Nguyễn Đức H; tên gọi khác: không; sinh ngày: 12/5/1993, tại thành phố Lai C, tỉnh Lai Châu; nơi cư trú: thôn Thọ B, xã Đức T, huyện Yên T, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức H và bà Cung Thị S; vợ: Lê Thị H; con: 02 đứa, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2019; anh, chị, em ruột: bị cáo là con duy nhất trong gia đình; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/4/2019, đến ngày 26/4/2019 được tại ngoại; có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 21/4/2019 Nguyễn Đức H, sinh năm 1993, trú tại thôn Thọ B, xã Đức T, huyện Yên T, tỉnh Nghệ An vận chuyển trái phép 01 cá thể tê tê và 07 cá thể rùa hộp trán vàng là loại động vật nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ từ Lào về Việt Nam để sử dụng. Đến khoảng 18 giờ ngày 22/4/2019 khi về đến địa phận thị trấn Tây Sơn, huyện Hương S thì bị lực lượng chức năng kiểm tra, phát hiện bắt quả tang.

Tại bản kết luận giám định số: 366/STTNSV ngày 25/4/2019 của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật, Viện Hàn Lâm khoa học và công nghệ Việt Nam, kết luận: 01 cá thể động vật còn sống là loài Tê Tê Java có tên khoa học là Manisjavaica; 07 cá thể động vật còn sống là loài Rùa hộp trán vàng có tên khoa học là Cuora galbinifrons.

Với hành vi phạm tội trên, tại Bản án sơ thẩm số: 50/2019/HS-ST ngày 10/10/2019 của TAND huyện Hương S, tỉnh Hà Tĩnh đã quyết định: tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý hiếm”. Căn cứ điểm a, i khoản 2 Điều 244, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 03 (ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ (từ ngày 22/4/2019 đến ngày 26/4/2019).

Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Trong hạn luật định, ngày 13/10/2019, bị cáo Nguyễn Đức H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai và thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo đúng như nội dung của bản án sơ thẩm. Bị cáo trình bày ý kiến và vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố xét xử phúc thẩm vụ án đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 BLTTHS không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Theo lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy hành vi phạm tội của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành của tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” được quy định tại điểm a, i khoản 2 Điều 244 BLHS, theo đó Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2019/HS-ST ngày 10/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hương S, tỉnh Hà Tĩnh quyết định tuyên bố bị cáo phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” là đúng người, đúng tội, có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào các quy định của Nhà nước về bảo vệ động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ, hành vi đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân gián tiếp dẫn đến sự mất cân bằng trong hệ sinh thái tự nhiên và làm giảm số lượng các loài động vật quý, hiếm trong tự nhiên. Vì vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt mức án đối với bị cáo như vậy là nghiêm minh.

Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo có cung cấp cho Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thêm được: Giấy xác nhận của Trại giam Xuân Hà trong việc phối hợp cùng Trại giam truy bắt phạm nhân nguy hiểm trốn trại. Đây là tình tiết mới chưa được cấp sơ thẩm xem xét. Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn, hối cải với hành vi phạm tội của mình, cũng do hiểu biết pháp luật kém, quá trình sang Lào làm ăn thấy có người bán rùa, tê tê nên bị cáo đã mua về nhằm mục đích sử dụng chứ không phải để buôn bán kiếm lời, gia đình bị cáo là gia đình cách mạng, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính trong gia đình, 02 con bị cáo còn nhỏ (có 01 đứa vừa mới được sinh hơn 05 tháng tuổi), bị cáo lần đầu phạm tội và hiện nay số cá thể rùa và tê tê này cũng đã được trả về với thiên nhiên.

Xét thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ TNHS, có thêm tình tiết giảm nhẹ mới. Vì vậy, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm thấy cần cải biện pháp thi hành án đối với bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật, để bị cáo có điều kiện giúp đỡ gia đình, chăm sóc vợ mới sinh và cũng đủ nghiêm nhằm cải tạo giáo dục đối với bị cáo.

[4] Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, e khoản 1 Điều 357 Bộ Luật tố tụng hình sự.

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức H.

Sửa Bản án sơ thẩm số 50/2019/HS-ST ngày 10/10/2019 của Tòa án nhân dân huyện Hương S, tỉnh Hà Tĩnh.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” Căn cứ điểm a, i khoản 2 Điều 244, điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 25/02/2020).

Giao các bị cáo Nguyễn Đức H cho Ủy ban nhân dân xã Đức T, huyện Yên T, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước đó và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại điều 56 của Bộ luật Hình sự.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án, bị cáo Nguyễn Đức H không phải chịu án phí HSPT.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.


41
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về