Bản án 27/2020/HNGĐ-ST ngày 27/08/2020 về hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BA, TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 27/2020/HNGĐ-ST NGÀY 27/08/2020 VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Trong ngày 27 tháng 8 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 97/2020/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 6 năm 2020 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2020/QĐXXST-HNGĐ, ngày 12 tháng 8 năm 2020 giữa các đương sự:

 Nguyên đơn Chị Đặng Thị H - Sinh năm 1996 Nơi cư trú: Khu 1, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ

Bị đơn Anh Nguyễn Hoàng L - Sinh năm 1989 Nơi cư trú: Khu 1, xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ Các đương sự đều có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn là chị Đặng Thị H trình bày về nội dung và yêu cầu khởi kiện như sau:

- Chị và anh Nguyễn Hoàng L tự nguyện kết hôn với nhau ngày 03/3/2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng ở chung cùng với gia đình anh L tại xã L, huyện Thanh Ba. Vợ chồng chung sống cho đến cuối năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính cách, cuộc sống chung không có hạnh phúc. Ngoài ra chị còn có bất đồng với bố mẹ chồng và gia đình anh L đã đuổi chị ra khỏi nhà. Do mâu thuẫn nghiêm trọng nên từ cuối năm 2018, chị đã phải về ở nhà bố mẹ đẻ, vợ chồng sống ly thân nhau từ đó cho đến nay. Chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể quay về sống chung với anh L được, tình cảm không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng L.

- Về con chung: Chị và anh Nguyễn Hoàng L có với nhau 01 con chung là Nguyễn Diệu L; sinh ngày 30/10/2017 (hiện nay đang ở với bố mẹ anh L vì bố mẹ anh L không cho chị đón và đưa con đi cùng). Sau khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác: Chị và anh Nguyễn Hoàng L không có nên yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là anh Nguyễn Hoàng L trình bày như sau:

- Anh xác nhận về việc kết hôn, thời gian và thủ tục kết hôn, thời gian vợ chồng chung sống đúng như chị Đặng Thị H đã trình bày ở trên. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn do bất đồng tính cách, không hòa hợp cho đến đầu năm 2019 chị H tự bỏ về nhà mẹ đẻ ở từ đó đến nay. Anh cũng cũng xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không có hạnh phúc vì vậy anh cũng yêu cầu được ly hôn với chị Đặng Thị H.

- Về con chung: Anh xác nhận anh và chị H có với nhau 01 con chung hiện đang ở với anh và gia đình anh đúng như chị H đã trình bày ở trên. Sau khi ly hôn, anh yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, mặc dù đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh bị đơn là anh Nguyễn Hoàng L đều vắng mặt mà không có lý do vì vậy Tòa án không thể tiến hành hòa giải và quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Hoàng L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đăng ký kết hôn do vậy là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, sau một thời gian chung sống vợ chồng đã phát sinh những mâu thuẫn mà nguyên nhân chính là bất đồng quan điểm lối sống, cả hai lại không có biện pháp tích cực để cùng giải quyết mâu thuẫn, không thực sự muốn níu kéo hôn nhân vì vậy làm cho mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trở nên trầm trọng và hiện nay đã không còn sống chung, cũng không còn nghĩa vụ thương yêu, quan tâm chăm sóc nhau, mâu thuẫn bất đồng khó có khả năng hàn gắn, nếu cứ tiếp tục ràng buộc sẽ làm cho hôn nhân không có hạnh phúc và mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, xét yêu cầu ly hôn cả hai bên là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật nên được công nhận.

[3]. Về con chung: Chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Hoàng L có 01 con chung như đã trình bày ở trên. Xét nguyện vọng được nuôi con chung của cả hai bên là hoàn toàn chính đáng, xuất phát từ tình cảm, trách nhiệm của người cha, người mẹ đối với con của mình và đây cũng là quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ đã được pháp luật quy định. Căn cứ vào lời khai của các đương sự, lời khai của ông Nguyễn Văn S (bố đẻ anh L), kết quả xác minh tại địa phương và thực tế của mỗi bên hiện nay thì; con chung đang ở với bố mẹ đẻ anh L tại khu 1 xã L, còn anh L thì đi làm ăn xa không thường xuyên có mặt ở nhà vì vậy anh L cũng không phải là người đang trực tiếp chăm sóc con. Ngoài ra, do con chung hiện còn quá nhỏ, vẫn chưa đủ 03 tuổi nên cần sự quan tâm, chăm sóc trực tiếp của người mẹ vì vậy để cho con chung có được sự chăm sóc nuôi dưỡng đầy đủ nhất, đảm bảo cho sự phát triển toàn diện của con chung nên giao con chung cho chị H được quyền trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng sau khi ly hôn là phù hợp với quy định của pháp luật.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung sau ly hôn: Do chị H tự nguyện không yêu cầu nên trong vụ án này không buộc anh L phải thực hiện nghĩa nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

[4]. Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác đương sự xác nhận không có nên không giải quyết.

[5]. Về án phí: Nguyên đơn là chị Đặng Thị H phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[6]. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Ba đã phát biểu quan điểm: Xác định trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của đương sự và giao con chung cho chị Đặng Thị H trực tiếp nuôi dưỡng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Xử: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Đặng Thị H và anh Nguyễn Hoàng L.

- Về con chung: Giao cho chị Đặng Thị H được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Diệu L; sinh ngày 30/10/2017 (hiện nay con chung đang ở với anh Luận và bố mẹ đẻ anh L tại khu 1 xã L, huyện T). Anh L không phải cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn.

Sau khi ly hôn, anh L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung, vay nợ chung và các vấn đề khác không có nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

- Về án phí: Chị Đặng Thị H phải nộp 300.000.đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp 300.000.đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo “Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án” số AA/2019/0002147 ngày 01/6/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Ba.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 27/2020/HNGĐ-ST ngày 27/08/2020 về hôn nhân và gia đình

Số hiệu:27/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thanh Ba - Phú Thọ
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:27/08/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về