Bản án 27/2019/HSST ngày 22/01/2019 về tội mua bán trái phép chất ma tuý

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 27/2019/HSST NGÀY 22/01/2019 VỀ TỘI MUA BÁN TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày 22 tháng 01 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 710/2018/HSST, ngày 01/12/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2019/QĐXXST- HS, ngày 02/01/2019 đối với các bị cáo:

1. Trần Thành T; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 13/21A Q, phường W, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 69 đường Y, phường W, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn C (chết) và bà Nguyễn Thị H; Hoàn cảnh gia đình: có vợ là bà Trần Lê Thùy T và 01 con (sinh năm 2013); Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 03/7/2015, Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số: 108/2015/HSST.

Bị tạm giữ, tạm giam ngày: 06/6/2018 - Có mặt.

2. Trần Phi H; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1985 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 716/4 U, phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 150/4 O, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Như H (chết) và bà Huỳnh Thị T; Hoàn cảnh gia đình: có vợ là bà Nguyễn Thị Cẩm N và 03 con (con lớn nhất sinh năm 2004, con nhỏ nhất sinh năm 2012); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ, tạm giam ngày: 05/6/2018 - Có mặt.

1 3. Phạm Quang V; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 360/A3 A, Phường S, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 47/54E F, phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Không rõ cha, con bà Nguyễn Thị C; Hoàn cảnh gia đình: có vợ là bà Nguyễn Thị Tuyết N và 02 con (con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2012); Tiền sự: Không.

Tiền án:

- Ngày 26/01/2011, Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án số: 21/2011/HSST. Bị cáo chưa chấp hành xong việc nộp án phí 200.000 đồng, 500.000 đồng tiền sung công quỹ Nhà nước và 3.450.000 đồng tiền phạt, lãi suất.

Nhân thân:

- Ngày 01/7/2002, Tòa án nhân tỉnh An Giang xử phạt 02 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo Bản án số: 117/HSST.

Bị tạm giữ, tạm giam ngày: 05/6/2018 - Có mặt.

Những người tham gia tố tụng khác:

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Trần Thanh Q; Sinh năm: 1990

Thường trú: 13/21A L, phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh - Vắng mặt.

+ Ông Đỗ Minh H; Sinh năm: 1997

Thường trú: Z, xã X, huyện C, tỉnh Tây Ninh - Vắng mặt.

+ Ông Lâm Xương N; Sinh năm: 1988

Thường trú: 230/80 C, Phường V, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh - Vắng mặt.

+ Ông Lâm Tiên C; Sinh năm: 1988

Thường trú: 55/4 N, Phường N, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh - Vắng mặt.

+ Bà Ngô Quỳnh Đ; Sinh năm: 1984

Thường trú: 92/1/17B O, phường A, quận K, Thành phố Hồ Chí Minh - Vắng mặt.

- Người bào chữa:

Bà Nguyễn Ngọc Trâm là luật sư của Văn phòng luật sư Hồ Trung Hiếu thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh bào chữa chỉ định cho bị cáo Trần Thành T – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 20 giờ, ngày 05/6/2018, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đang tuần tra đến ngã tư đường Nguyễn Xuân Khoát và đường Thống Nhất, phường Tân Thành, quận Tân Phú thì phát hiện Trần Phi H có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra và thu giữ trong túi quần H đang mặc 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu được gói trong 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,1075 gam, loại Methamphetamine (MA) nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tiếp đó, lúc 20 giờ 30 phút, ngày 05/6/2018, tại ngã tư đường Vườn Lài và đường Phạm Văn Xảo, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Tân Phú kiểm tra hành chính đối với Lâm Tiên C đã phát hiện Cường có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong túi quần C đang mặc 01 gói nylon chứa tinh thể không màu được gói trong 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0964 gam, loại Methamphetamine.

Đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, tại ngã ba đường Hòa Bình và đường Kênh Tân Hóa, phường Tân Thới Hòa, quận Tân Phú, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Tân Phú đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Phạm Quang V, phát hiện V có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ trong túi quần của V đang mặc 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,6580 gam, loại Methamphetamine nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Tiếp đó, lúc 00 giờ 30 phút, ngày 06/6/2018, tại ngã tư đường Vườn Lài và đường Phạm Văn Xảo, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Tân Phú tiến hành kiểm tra đối với Phùng Văn T đang điều khiển xe mô tô chở Lâm Xương N phát hiện thu giữ trong lòng bàn tay trái của N 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0975 gam, loại Methamphetamine.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo và các đối tượng khai nhận:

- Trần Phi H khai nhận đã mua ma túy (MA) có khối lượng 1,1075 gam của Trần Thành T với giá 900.000 đồng để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Trước đó, H đã 05 lần mua ma túy đá của T để sử dụng cho bản thân.

- Phạm Quang V khai đã mua số ma túy (MA) có khối lượng 0,6580 gam của T với giá 500.000 đồng để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Trước đó, V đã 04 lần mua ma túy đá của T để sử dụng cho bản thân.

- Lâm Tiên C khai đã mua số ma túy (MA) có khối lượng 0,0964 gam của T với giá 200.000 đồng để sử dụng. Trước đó, C đã 02 lần mua ma túy của tài để sử dụng cho bản thân.

- Phùng Văn T và Lâm Xương N khai đã mua số ma túy (MA) có khối lượng 0,0975 gam của Trần Thành T với giá 200.000 đồng để sử dụng. Số tiền mua ma túy là của Phùng Văn T đưa cho N, sau đó N điều khiển xe chở T đi mua ma rúy để cả 02 sử dụng chung.

Căn cứ vào lời khai của H, V, C, Phùng Văn T, N và các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, vào lúc 10 giờ, ngày 06/6/2018 tại trước nhà số 69 đường 30/4, phường Tân Thành, quận Tân Phú, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận Tân Phú tiến hành kiểm tra và phát hiện Trần Thành T đang cất giữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong túi quần T đang mặc 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,8945 gam, loại Methamphetamine. T khai đang đi bán số ma túy trên cho một thanh niên (không rõ lai lịch) với giá 1.200.000 đồng nhưng chưa bán được thì bị bắt giữ. Cơ quan Công an đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại địa chỉ số 69, đường 30/4, phường Tân Thành, quận Tân Phú thu giữ được 09 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 40,8974 gam, loại Methamphetamine; 02 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định có khối lượng 92,9597 gam, không tìm thấy ma túy.

Toàn bộ số ma túy thu giữ được của H, V, C, Phùng Văn T, N và Trần Thành T đã được trưng cầu giám định, kết quả thể hiện qua Kết luận giám định số: 1000/KLGĐ-H ngày 12/6/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh.

Quá trình điều tra, Trần Thành T khai nhận: Từ tháng 05/2018, T đã 03 lần mua ma túy của người đàn ông tên Minh (không rõ lai lịch) tại khu vực cầu Chữ Y, Quận 8, mỗi lần mua từ 20 gam đến 40 gam ma túy (MA) với giá từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng. T mang về nhà cất giữ, lấy một ít để sử dụng và bán lại cho người nghiện để thu lợi bất chính.

Từ tháng 5/2018 đến ngày 05/6/2018 T đã 06 lần bán ma túy cho Trần Phi H, 05 lần đầu T bán cho H, mỗi lần 01 gói ma túy (MA) (không rõ khối lượng) với giá 200.000 đồng, H mang về sử dụng hết. Đến ngày 05/6/2018, T bán cho H 01 gói ma túy loại MA có khối lượng 1,1075 gam (được gói trong tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng) giá 900.000 đồng, khi H đang đi về nhà thì bị phát hiện bắt giữ. Lời khai của T phù hợp với lời khai của H.

Từ tháng 5/2018 đến ngày 05/6/2018 T đã 05 lần bán ma túy cho Phạm Quang V, 04 lần đầu T bán cho V, mỗi lần 01 gói ma túy (MA) (không rõ khối lượng) với giá 300.000 đồng, V mang về sử dụng hết. Đến ngày 05/6/2018, T bán cho V 01 gói ma túy loại MA có khối lượng 0,6580 gam giá 500.000 đồng, khi V đang đi về nhà thì bị phát hiện bắt giữ. Lời khai của T phù hợp với lời khai của V.

Ngoài ra, T còn nhiều lần bán ma túy loại MA cho Lâm Tiên C, Lâm Xương N, Phùng Văn T và một số người khác để thu lợi bất chính.

Vt chứng thu giữ trong vụ án:

+ 06 gói niêm phong bên ngoài ghi vụ số 1000/18 ( gói 1, 2, 3, 4, 5, 6).

+ 01 gói niêm phong bên ngoài ghi vụ số 1000/18 (gói 7).

1. Thu giữ của Trần Thanh T:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA cùng với sim.

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO cùng với sim.

+ 01 (một) cân điện tử.

+ 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

+ 01 (một) xe máy hiệu Wave ZX biển số 51Z6-4007, số máy LC152FMH-00430199, số khung LLCLXN3A4Y1B02199.

+ 01 (một) xe máy hiệu Yamaha loại Exciter biển số 50N1-01916, số máy 1S93-001364, số khung RLCE1S9307Y001364.

+ 3.000 (ba ngàn) đồng.

2. Thu giữ của Trần Phi H:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen cùng với sim.

+ 01 (một) xe môtô hiệu Honda loại Esky biển số 54P5-3468, số máy: SDH1P52QMIB-61013741, số khung: LALTCJN03-61052506.

3. Thu giữ của Phạm Quang V:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xám.

+ 01 (một) 01 xe gắn máy hiệu Loncin biển số 51Z9-4877, số máy: VHHLC150FMG-01045854, số khung: VMXPCG0062H045854.

4. Thu giữ của Lâm Xương N:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu IPHONE màu trắng.

5. Thu giữ của Lâm Tiên C:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu trắng.

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu IPHONE màu đen.

+ 01 (một) xe máy hiệu Wave S biển số 51N4-8078, số máy HC09E- 6764726, số khung RLHHC09067Y940201.

Bản cáo trạng số: 505/CTr-VKS-P1, ngày 23/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố:

- Bị cáo Trần Thanh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Bị cáo Trần Phi H và bị cáo Phạm Quang V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích, đánh giá, tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, nêu lên những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Trần Phi H và bị cáo Phạm Quang V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Thanh T từ 15 (mười lăm) năm tù đến 16 (mười sáu) năm tù.

Phạt bị cáo Trần Thanh T số tiền 10.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

- Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Phi H từ 01 (một) năm tù đến 02 (hai) năm tù.

Phạt bị cáo Trần Phi H số tiền 5.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

- Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Quang V từ 02 (hai) năm tù đến 03 (ba) năm tù.

Phạt bị cáo Phạm Quang V số tiền 5.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

Vvt chứng:

Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Lut sư Nguyễn Ngọc Trâm bào chữa cho bị cáo Trần Thanh T không tranh luận về phần tội danh. Tuy nhiên, luật sư cho rằng mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo T là quá nặng, trong vụ án bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo khó khăn, có con nhỏ, trình độ văn hóa thấp nên hạn chế về nhận thức pháp luật. Vì vậy, luật sư nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt.

Đi diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tranh luận: Bị cáo Trần Thanh T phạm tội thuộc trường hợp tái phạm và phạm tội nhiều lần, nên mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp với quy định của pháp luật và cũng đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Tài.

Các bị cáo không tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, các bị cáo, luật sư và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Trần Thanh T, Trần Phi H và Phạm Quang V khai nhận hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung, biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản đối chất, kết luận giám định…. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Lúc 20 giờ, ngày 05/6/2018, tại ngã tư đường Nguyễn Xuân Khoát và đường Thống Nhất, phường Tân Thành, quận Tân Phú, Công an quận Tân Phú kiểm tra thu giữ của Trần Phi H 01 gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 1,1075 gam, loại Methamphetamine (MA). H khai nhận mua của Trần Thanh T.

Tiếp đó, lúc 20 giờ 30 phút, cùng ngày, tại ngã tư đường Vườn Lài và đường Phạm Văn Xảo, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, Công an quận Tân Phú thu giữ của Lâm Tiên C 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0964 gam, loại MA. C khai nhận mua của Trần Thanh T.

Đến khoảng 20 giờ 45 phút, cùng ngày, tại ngã ba đường Hòa Bình và đường Kênh Tân Hóa, phường Tân Thới Hòa, quận Tân Phú, Công an quận Tân Phú thu giữ của Phạm Quang V 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,6580 gam, loại MA. V khai nhận mua của Trần Thanh T.

Tiếp đó, lúc 00 giờ 30 phút, ngày 06/6/2018, tại ngã tư đường Vườn Lài và đường Phạm Văn Xảo, phường Phú Thọ Hòa, quận Tân Phú, Công an quận Tân Phú kiểm tra đối với Phùng Văn T và Lâm Xương N thu giữ của N 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0975 gam, loại MA.

Căn cứ vào lời khai của H, V, C, Phùng Văn T, N, vào lúc 10 giờ, ngày 06/6/2018 tại trước nhà số 69 đường 30/4, phường Tân Thành, quận Tân Phú, Công an quận Tân Phú tiến hành kiểm tra và phát hiện Trần Thành T đang cất giữ trái phép chất ma túy để bán. Thu giữ của T 01 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,8945 gam, loại MA. Cơ quan Công an đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của T tại địa chỉ số 69, đường 30/4, phường Tân Thành, quận Tân Phú thu giữ 09 gói nylon chứa tinh thể không màu, kết quả giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 40,8974 gam, loại MA.

Như vậy, hành vi của bị cáo Trần Thành T đã phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; bị cáo Trần Phi H và bị cáo Phạm Quang V đã phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay đều xác định vì động cơ tư lợi nên bị cáo Trần Thành T đã bán 1,1075 gam ma túy (MA) cho bị cáo H; bán 0,6580 gam ma túy (MA) cho bị cáo V; bán 0,0964 gam ma túy (MA) cho Lâm Tiên C; bán 0,0975 gam ma túy (MA) cho Phùng Văn T và Lâm Xương N. Ngoài ra, cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo T 43,7919 ma túy (MA) nhằm mục đích bán lại cho người khác để thu lợi bất chính. Do đó, bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tổng khối lượng ma túy đã bán và bị thu giữ là 45,7513 gam, loại MA nên thuộc trường hợp mua bán “Methamphetamine có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam”. Vì vậy, cần phải áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Trần Thanh T.

Bị cáo Trần Phi H đã mua ma túy (MA), có khối lượng 1,1075 gam của bị cáo T để sử dụng; bị cáo Phạm Quang V đã mua ma túy (MA), có khối lượng 0,6580 gam của bị cáo T để sử dụng thì cả hai bị bắt giữ. Do đó, bị cáo H và bị cáo V phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên thuộc trường hợp tàng trữ “Methamphetamine có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”. Vì vậy, cần phải áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo H và bị cáo V.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm hại đến việc quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy mà còn xâm hại trực tiếp đến trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho tệ nạn ma túy gia tăng. Tất cả các bị cáo đều biết rất rõ ma túy là một tệ nạn xã hội nguy hiểm, không chỉ hủy hoại sức khỏe con người, là nguyên nhân phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần thiết phải áp dụng tội danh và hình phạt của điều luật truy tố quy định tại Điều 249, Điều 251 của Bộ luật hình sự để xử phạt các bị cáo với mức án tương xứng thì mới có tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.

Ngoài hình phạt chính, cần phải áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Trần Thành T. Riêng bị cáo Trần Phi H và bị cáo Phạm Quang V có hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định, chỉ mua ma túy để sử dụng cho bản thân nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo H và bị cáo V.

Quá trình điều tra, các bị cáo thể hiện sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Bị cáo Trần Thành T có tiền án về “Cướp giật tài sản” chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Ngoài ra, bị cáo T nhiều lần mua bán ma túy nên thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên. Vì vậy, cần phải áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo T.

Bị cáo Phạm Quang V có tiền án về “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Vì vậy, cần phải áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo V.

Đối với Lâm Tiên C, Lâm Xương N, Phùng Văn T đã mua ma túy (MA) của bị cáo T để sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ nhưng do khối lượng ma túy thu giữ của C, N và T không đủ định lượng để xử lý về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Kết quả xác minh xác định các đối tượng chưa có tiền sự hoặc tiền án về hành vi này nên Cơ quan điều tra Công an quận Tân Phú đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng/người là có cơ sở.

Đối với người đàn ông tên Minh đã bán ma túy cho bị cáo Trần Thành T và người thanh niên đặt mua ma túy (MA) của T khi T đi giao ma túy bị bắt giữ, T khai không rõ lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xác minh làm rõ để xử lý là có cơ sở.

Vvật chứng của vụ án:

- Đối với 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy thu giữ của bị cáo T và toàn bộ số ma túy thu giữ của các bị cáo là vật cấm lưu hành, là tang vật liên quan đến vụ án nên tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA, sim số 0909334024 dùng để liên lạc mua bán ma túy; 01 (một) cân điện tử và 3.000 (ba ngàn) đồng thu giữ của bị cáo T; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen, sim số 0909734651 thu giữ của bị cáo H dùng để liên lạc mua bán ma túy; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xám thu giữ của bị cáo V dùng để liên lạc mua bán ma túy; 01 (một) điện thoại di động hiệu IPHONE màu trắng thu giữ của Lâm Xương N dùng để liên lạc mua bán ma túy; 01 (một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG màu trắng thu giữ của Lâm Tiên C dùng để liên lạc mua bán ma túy là tang vật liên quan đến vụ án nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, sim số 01263424406 thu giữ của bị cáo Trần Thành T và 01 (một) điện thoại di động hiệu IPHONE màu đen thu giữ của Lâm Tiên C dùng để liên lạc cá nhân, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo T và Lâm Tiên C.

- Đối với 01 (một) xe môtô hiệu Honda loại Esky biển số 54P5-3468, số máy: SDH1P52QMIB-61013741, số khung: LALTCJN03-61052506. Qua xác minh được biết do chị Nguyễn Thị Bạch Tuyết (thường trú: 54 Độc Lập, phường Tân Thành, quận Tân Phú) đứng tên trong giấy đăng ký sở hữu. Năm 2012, chị Tuyết đã bán xe cho một người phụ nữ (không rõ lai lịch) với giá 4.000.000 đồng. Bị cáo H khai đã mua xe này từ một người phụ nữ (không rõ lai lịch) vào tháng 7/2017 để sử dụng nhưng không làm hợp đồng mua bán và chưa sang tên. Ngày 06/6/2018, H sử dụng xe trên làm phương tiện đi mua ma túy của bị cáo T để sử dụng thì bị bắt quả tang. Vì vậy, cần thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, sau 06 (sáu) tháng kể từ ngày đăng báo nếu không có chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 (một) 01 xe gắn máy hiệu Loncin biển số 51Z9-4877, số máy: VHHLC150FMG-01045854, số khung: VMXPCG0062H045854. Qua xác minh được biết do ông Phạm Đình Triệu (thường trú: 8/10, khu phố 5, thị trấn Nhà Bè, huyện Nhà Bè) đứng tên sở hữu. Qua xác minh, hiện ông Triệu không còn cư trú tại địa phương. Bị cáo V khai đã mua xe này của một người đàn ông (không rõ lai lịch) để sử dụng nhưng không làm hợp đồng bán và chưa sang tên. Ngày 06/6/2018, V sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy của bị can T để sử dụng thì bị bắt quả tang. Vì vậy, cần thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, sau 06 (sáu) tháng kể từ ngày đăng báo nếu không có chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 (một) xe máy hiệu Yamaha loại Exciter biển số 50N1-01916, số máy 1S93-001364, số khung RLCE1S9307Y001364. Kết quả xác minh biển số xe và số khung, số máy không trùng khớp với nhau. Biển số xe 50N1-01916 có số khung là JA32E1126883, số máy: RLHJA3218EY070377 do chị Nguyễn Thị Dương (thường trú: 1748, Tỉnh Lộ 10, phường Tân Tạo, quận Bình Tân) đứng tên sở hữu. Chị Dương khai đã bán xe này cho một người đàn ông (không rõ lai lịch) tại quận Bình Tân nhưng không làm giấy mua bán xe. Kết quả giám định số máy 1S93-001364, số khung RLCE1S9307Y001364 là nguyên thủy, không bị đục sửa và có biển số là 70K1-454.43 do anh Đỗ Minh Hoàng (thường trú: ấp Tân Trường, xã Tân Hiệp, huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh) đứng tên chủ sở hữu, anh Hoàng cho biết đã bị mất trộm chiếc xe trên vào tháng 4/2018 tại địa chỉ 92/53 đường số 12, phường Bình Hưng Hòa, quận Bình Tân nhưng không trình báo sự việc trên cho Cơ quan Công an. T khai chiếc xe trên do một người bạn tên Thắng (không rõ lai lịch) thế chấp cho T để mượn số tiền 3.000.000 đồng. Do chiếc xe trên là của anh Đỗ Minh Hoàng nên Hội đồng xét xử trả lại cho anh Hoàng. Riêng biển số 50N1-01916 gắn vào chiếc xe thì tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 (một) xe máy hiệu Wave ZX biển số 51Z6-4007, số máy LC152FMH-00430199, số khung LLCLXN3A4Y1B02199. Qua xác minh được biết do anh Nguyễn Minh Thăng (thường trú: 234C Xóm Chiếu, phường 15, Quận 4) đứng tên sở hữu. Năm 2006 anh Thăng đã bán chiếc xe trên cho tiệm một cầm đồ (không rõ địa chỉ). Bị cáo T khai đã mượn xe trên của Trần Thanh Quang (em ruột T) để sử dụng. Anh Quang khai mua chiếc xe trên của một người thanh niên (không rõ lai lịch) vào năm 2016 với giá 3.000.000 đồng nhưng chưa làm thủ tục mua bán và sang tên, đầu tháng 5/2018 anh Quang cho T mượn để sử dụng, không liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy của T. Tuy nhiên, anh Quang không có giấy tờ chứng minh chiếc xe trên là của mình nên cần thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng, sau 06 (sáu) tháng kể từ ngày đăng báo nếu không có chủ sở hữu hợp pháp đến nhận thì tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

- Đối với 01 (một) xe máy hiệu Wave S, biển số 51N4-8078, số máy HC09E-6764726, số khung RLHHC09067Y940201 do chị Ngô Huỳnh Điệp (thường trú: 92/1/17B đường số 6, khu phố 7, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân) (chị dâu C) đứng tên sở hữu. Ngày 05/6/2018, chị Điệp cho C mượn xe để đi công việc và không biết C sử dụng xe trên đi mua ma túy để sử dụng nên Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe trên cho chị Điệp.

các lẽ trên;

Tuyên bố:

QUYẾT ĐỊNH

Bị cáo Trần Thanh T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Bị cáo Trần Phi H và bị cáo Phạm Quang V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

1. Áp dụng điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt Trần Thành T: 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2018.

Phạt bị cáo Trần Thành T số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng để sung vào ngân sách Nhà nước.

2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt Trần Phi H: 01 (một) năm 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/06/2018.

3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt Phạm Quang V: 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/6/2018.

- Áp dụng Điều 47; Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia bên trong có sim card; 01 (một) cân điện tử màu đen; 3.000 (ba ngàn) đồng thu giữ của bị cáo T.

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen bên trong có 01 sim thu giữ của bị cáo H.

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xám bên trong có 01 sim thu giữ của bị cáo V.

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu trắng bên trong có sim card thu giữ của Lâm Xương N.

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu trắng bên trong có 01 sim của Lâm Tiên C.

Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

+ 06 (sáu) gói niêm phong bên ngoài ghi vụ 1000/18 gói (1, 2, 3, 4, 5, 6) có chữ ký của Giám định viên Võ Anh Tuấn (PC54) và CBĐT Vũ Ngọc Lan (PC47), bên trong là ma túy còn lại sau giám định.

+ 01 (một) gói niêm phong bên ngoài ghi vụ 1000/18 (gói 7) có chữ ký của Giám định viên Võ Anh Tuấn (PC54) và CBĐT Vũ Ngọc Lan (PC47), bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định.

Trả lại cho:

+ Bị cáo Trần Thành T 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO bên trong có sim card.

+ Ông Lâm Tiên C 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen bên trong có sim card.

+ Ông Đỗ Minh H 01 (một) xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: Yamaha, loại xe: 02 bánh, số loại: Exciter, biển số: 50N1-019.16, số máy: 1S93-001364, số khung: RLCE1S9307Y001364. Riêng biển số 50N1-019.16 gắn vào chiếc xe thì tách ra tịch thu tiêu hủy.

+ Bà Ngô Huỳnh Đ 01 (một) xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: Honda, loại xe: 02 bánh, số loại: Wave S, biển số: 51N4-8078, số máy: HC09E- 6764726, số khung: RLHHC09067Y940201.

Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng đối với:

+ 01 (một) xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: Honda, loại xe: 02 bánh, số loại: ESky, biển số: 54P5-3468, số máy: SDH1P52QMI-B-61013741, số khung: LALTCJN03-61052506.

+ 01 (một) xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: không rõ, loại xe: 02 bánh, số loại: Locin, biển số: 51Z9-4877, số máy: VHHLC150FMG-01045854, số khung: VMXPCG0062H045854.

+ 01 (một) xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu: Honda, loại xe: 02 bánh, số loại: Wave Zx, biển số: 51Z6-4007, số máy: LC152FMH-00430199, số khung: LLCLXN3A4Y1B02199 (sét mờ).

Sau 06 (sáu) tháng kể từ ngày đăng báo nếu không có chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu sung ngân sách Nhà nước những chiếc xe nêu trên.

(Theo biên bản giao nhận tang tài vật số: 103/19 ngày 22 tháng 11 năm 2018 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; Giấy nộp tiền vào tài khoản số: 3949.0.9059775.00000 tại KBNN Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 13/8/2018).

- Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.


79
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 27/2019/HSST ngày 22/01/2019 về tội mua bán trái phép chất ma tuý

Số hiệu:27/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 22/01/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về