Bản án 27/2019/HSST ngày 05/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN CHÂU, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 27/2019/HSST NGÀY 05/04/2019 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày 05 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 28/2019/HSST ngày 12 tháng 3 năm 2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2019/QĐXXST –HS ngày 27 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Lò Văn M; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1992 tại: huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản D, xã T L, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt nam; con ông: Lò Văn L, sinh năm: 1968 và bà Lò Thị P, sinh năm: 1969; bị cáo chưa có vợ; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt giam giữ từ ngày 15/12/2018 cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Cầm Trọng Thủy – Trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Sơn La ( Có mặt ).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 02 giờ 00 phút ngày 15/12/2018, tại khu vực bản Dẹ B, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, tổ công tác đội Cảnh sát hình sự Công huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, phát hiện bắt quả tang đối tượng Lò Văn M ( SN: 1992, trú tại: Bản Dẹ B - Tông Lạnh - Thuận Châu ) về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 gói ni lon màu trắng bên trong chứa chất bột cục màu trắng ( Theo đối tượng Mạnh khai nhận là Heroine ).

Kết quả cân tịnh số bột màu trắng thu giữ của đối tượng M có khối lượng là0,25 gam, trích rút 0,10 gam đánh ký hiệu M1 làm mẫu vật gửi giám định. Số còn lại0,15 gam đánh ký hiệu M2 đã niêm phong.

Tại bản Kết luận giám định số: 73/KLMT ngày 19/12/2018 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 là chất ma túy; Loại chất Heroine. Khối lượng ma túy thu giữ được là 0,25 gam; Loại Heroine.

Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, bị can Lò VănM đã khai nhận như sau:

Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 15/12/2018, Lò Văn M đi bộ từ nhà ở bản Dẹ, xã Tông Lạnh, huyện Thuận Châu đến bản Thôm, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đến bản Thôm thì Mạnh gặp và mua được của một người phụ nữ dân tộc Thái không quen biết 01 gói Heroine được gói bằng mảnh ni lon màu trắng với giá 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng ) sau khi mua được ma túy M cất dấu vào gấu quần bên phải đang mặc rồi đi bộ về nhà. Tuy trên đường về thì bị tổ công tác đội CSHS Công huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng là 01 gói ma túy như đã nêu ở trên.

Tại bản Cáo trạng số: 28/CT - VKS ngày 12/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, đề nghị truy tố bị can Lò Văn M về tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, giữ quan điểm truy tố bị cáo Lò Văn M, với tội danh và điều khoản luật áp dụng như trên.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 – điểm s khoản 1 Điều 51 - Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và xử phạt bị cáo mức án từ 14 đến 18 tháng tù.

- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền được quy định tại khoản 5Điều 249 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo.

Đề nghị áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự;

- Tuyên tịch thu tiêu huỷ số vật chứng còn lại là 0,15 gam Heroine.

Tại phiên tòa bị cáo M có ý kiến: Thừa nhận ngày 15/12/2018 đã bị bắt quả tang về hành vi tàng trữ 0,25 gam Heroine với mục đích sử dụng cho bản thân. Naybị cáo đã nhận thức được lỗi lầm mong được Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Nhất trí với bản Luận tội của đại diện Viện kiểm sát về hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo sinh sống ở một xã đặc biệt khó khăn; nguyên nhân phạm tội do bạn xấu lôi kéo; quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thành khẩn khai báo mà giảm nhẹ hình phạt thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

 [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

 [2] Về nội dung: Ngày 15/12/2018, bị cáo Lò Văn M ( Có căn cước lý lịch như trên ) đã bị bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý ( 0,25 gam Heroin ) với mục đích sử dụng cho bản thân. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để nhận thức được hành vi mua, tàng trữ trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với vật chứng thu giữ, Kết luận giám định về ma túy và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở đó đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Lò Văn M đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Như quan điểm truy tố và luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Châu là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

 “ 1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroin, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA, hoặc XLR-11có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.

 [3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội bởi; Hành vi bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến lĩnh vực độc quyền thống nhất quyền quản lý nhà nước về các chất ma tuý. Cụ thể hành vi mua, tàng trữ trái phép chất ma tuý nhằm sử dụng cho bản thân trước là xâm hại đến chính sức khỏe của bị cáo, sau là hành vi tiếp tay cho loại tội phạm khác như mua bán, vận chuyển . . . trái phép chất ma tuý trong xã hội gia tăng, gây mất trật tự an ninh ở địa phương. Tội phạm bị cáo thực hiện thuộc trường hợp nghiêm trọng, do đó cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian đủ mức trừng trị răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.

 [4] Tình tiết tăng nặng: Không.

 [5] Tình tiết giảm nhẹ: Xét quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, nên được áp dụng là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

 [6] Bị cáo đang bị tạm giam, cần tiếp tục giam giữ bị cáo trong hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo quy định tại khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

 [7] Đối với hình phạt bổ sung được quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Căn cứ vào kết quả xác minh xác định bị cáo không có khả năng thi hành nên Hội đồng xét xử không áp dụng.

 [8] Xử lý vật chứng: Đối với 0,15 gam Heroine ( Số còn lại sau khi trích rút 0,10 gam gửi giám định ) là chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, đồng thời là vật nhà nước cấm lưu hành Do vậy cần áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; để tuyên tịch thu tiêu hủy. .

 [9] Đối với nguồn gốc 0,25 gam Heroin bị bắt giữ, theo bị cáo khai do mua của một người phụ nữ dân tộc Thái không quen biết tại bản Thôm, xã Thôm Mòm, huyện Thuận Châu. Quá trình điều tra do bị cáo không cung cấp được tên, tuổi và địa chỉ cụ thể của đối tượng. Nên cơ quan Điều tra không có cơ sở, để điều tra làm rõ.

 [10] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm, theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

 [11] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án, theo quy định tại các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Về tội danh và hình phạt:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 - điểm s khoản 1 Điều 51 - Điều 38 Bộ luật hình sự;

- Tuyên bố bị cáo Lò Văn M phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Lò Văn M 14 ( Mười bốn ) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 15/12/2018 ( Ngày bắt giữ bị cáo ).

Áp dụng khoản 1, 3 Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;

* Tiếp tục tạm giam bị cáo trong hạn 45 ( Bốn mươi lăm ) ngày, kể từ ngày tuyên án, để đảm bảo biện pháp thi hành án phạt tù.

2. Xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47Bộ luật hình sự;

- Tuyên tịch thu tiêu huỷ: Chất bột Heroine khối lượng 0,15 gam ký hiệu M2

+ 01 mảnh ni lông màu trắng + 01vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Các vật chứng trên được niêm phong trong cùng 01 phong bì có viền xanh đỏ.

3. Án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

- Buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ ( Hai trăm nghìn đồng ).

4. Quyền kháng cáo:

Áp dụng các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự;

Báo cho bị cáo biết quyền được kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từngày tuyên án./.


69
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 27/2019/HSST ngày 05/04/2019 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

Số hiệu:27/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận Châu - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:05/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về