Bản án 27/2019/HNGĐ-ST ngày 23/09/2019 về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 27/2019/HNGĐ-ST NGÀY 23/09/2019 VỀ TRANH CHẤP THAY ĐỔI NGƯỜI TRỰC TIẾP NUÔI CON SAU LY HÔN

Ngày 23/9/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 69/2019/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 5 năm 2019 về tranh chấp: “Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12/8/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 39B/2019/QĐST-HNGĐ ngày 28/8/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Phước T – Sinh năm: 1993 - Địa chỉ: Số 12 đường A, tổ 36 phường T, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Lê Trần Anh Đ - Sinh năm: 1991 - Địa chỉ: Số 93 đường N, tổ 53, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, tại bản tự khai và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Phước T trình bày:

Bà Nguyễn Thị Phước T và ông Lê Trần Anh Đ kết hôn vào năm 2014 và có một đứa con chung là Lê Uyển N sinh ngày 13/09/2015, trong thời gian chung sống giữa hai bên đã xảy ra nhiều mâu thuẫn nên cả hai đã yêu cầu Tòa án nhân dân quận Sơn Trà công nhận việc thuận tình ly hôn tại Quyết định số 221/2018/QĐST-HNGĐ ngày 16/11/2018. Theo quyết định, hai bên thỏa thuận giao con Lê Uyển N - sinh ngày 13/09/2015 cho ông Lê Trần Anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, bà Nguyễn Thị Phước T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung dủ 18 tuổi.

Tuy nhiên, thực tế thì từ khi hôn cho đến nay bà T vẫn là người trực tiếp nuôi dưỡng con và không nhận được sự chu cấp nào từ phía ông Đ. Hiện nay công việc của bà là nhân viên tư vấn bảo hiểm nhân thọ có lương cứng 7 triệu đồng và được thưởng theo doanh số. Ngoài ra, bà còn làm thêm công việc làm móng tay vào ban đêm nên bà tự tin sẽ lo cho con tốt hơn ông Đ. Còn về phía ông Đạt, bà cho rằng hiện tại ông không có công việc ổn định, từ trước đến nay ông Đ không quan tâm chăm sóc con cái. Do vậy, bà đề nghị Toà án xem xét và giải quyết cho bà được quyền trực tiếp nuôi con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, bà không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con.

* Đối với bị đơn – ông Lê Trần Anh Đ: Mặc dù đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ các thông báo Thụ lý, về các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cũng như Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Lê Trần Anh Đ đều vắng mặt và không có ý kiến phản hồi. Vì vậy Toà án không có cơ sở để xem xét yêu cầu và nguyện vọng của ông Đ.

* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Theo đó, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân thủ đúng pháp luật, riêng bị đơn ông Lê Trần Anh Đ không chấp hành triệu tập của Tòa án, chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn v/v thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn: Giao con chung Lê Uyển N- sinh ngày: 13/9/2015 cho bà Nguyễn Thị Phước T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, ông Lê Trần Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, HĐXX nhận định:

[1] Về thủ tục: Đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Phước T nộp tại Tòa án là đúng thủ tục và thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Lê Trần Anh Đ là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng ông Lê Trần Anh Đ vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Phước T và ông Lê Trần Anh Đ kết hôn vào năm 2014 và có một con chung là Lê Uyển N sinh ngày 13/09/2015. Năm 2018, cả hai ông bà được Tòa án nhân dân quận Sơn Trà công nhận việc thuận tình ly hôn tại Quyết định số 221/2018/QĐST-HNGĐ ngày 16/11/2018. Theo quyết định, hai bên thỏa thuận giao con Lê Uyển N- sinh ngày 13/09/2015 cho ông Lê Trần Anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, bà Nguyễn Thị Phước T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung dủ 18 tuổi.

Tuy nhiên, thực tế thì từ khi hôn cho đến nay bà T vẫn là người trực tiếp nuôi dưỡng con và không nhận được sự chu cấp nào từ phía ông Đ. Hiện nay công việc của bà là nhân viên tư vấn bảo hiểm nhân thọ có lương cứng 7 triệu đồng và được thưởng theo doanh số. Ngoài ra, bà còn làm thêm công việc làm móng tay vào ban đêm nên bà đảm bảo đủ điều kiện để lo cho con một tốt hơn ông Đ. Còn về phía ông Đạt, bà cho rằng hiện tại ông không có công việc ổn định, từ trước đến nay ông Đ không quan tâm chăm sóc con cái. Do vậy, bà đề nghị Toà án xem xét và giải quyết cho bà được quyền trực tiếp nuôi con cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, bà không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con.

[3] Xét yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của bà Nguyễn Thị Phước T đối với ông Lê Trần Anh Đ thì thấy: Tại phiên tòa, bà T cung cấp Đơn xác nhận ngày 21/8/2019 (có chữ ký và con dấu của Giám đốc Công ty TNHH Đại lý bảo hiểm Trí Nguyên Tâm) về việc hiện nay bà T là nhân viên văn phòng tại Công ty TNHH Đại lý bảo hiểm Trí Nguyên Tâm, có lương cơ bản là 7.000.000 đồng và được thưởng theo doanh số. Ngoài ra, qua xác minh Tòa án được biết cháu Lê Uyển N từ trước đến nay đều sinh sống với mẹ, cuộc sống và học tập đều đã ổn định. Về phía ông Lê Trần Anh Đ hiện tại không có công việc ổn định,Tòa án cũng đã triệu tập ông Đ nhiều lần để ghi nhận ý kiến của ông Đ, tuy nhiên ông Đ không chấp hành, thể hiện thái độ thờ ơ, bỏ mặc.

[4] Từ những chứng cứ nêu trên, HĐXX xác định lời khai của bà T là hoàn toàn có cơ sở, ông Lê Trần Anh Đ không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Do vậy, để đảm bảo cho cháu Lê Uyển N được phát triển đầy đủ và toàn diện về thể chất lẫn tinh thần, HĐXX xét thấy cần giao cháu Lê Uển Ni - Sinh ngày: 13/9/2015 cho bà T được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp với điều 81,82,83,84 Luật Hôn nhân và gia đình. Do bà T không yêu cầu ông Đ phải cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không đề cập giải quyết.

[5] Án phí HNGĐ sơ thẩm: 300.000 đồng bà Nguyễn Thị Phước T tự nguyện chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thườn vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc "Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn " của bà Nguyễn Thị Phước T đối với ông Lê Trần Anh Đ.

Xử: Giao con chung Lê Uyển N- sinh ngày: 13/9/2015 cho bà Nguyễn Thị Phước T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, ông Lê Trần Anh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Khi vì cần thiết lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con chung.

Án phí HNGĐ-ST 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) Bà Nguyễn Thị Phước T tự nguyện chịu, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị Phước T đã nộp theo biên lai thu số 7780 ngày 24/4/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.

Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người phải thi hành dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.


26
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 27/2019/HNGĐ-ST ngày 23/09/2019 về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn

Số hiệu:27/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Sơn Trà - Đà Nẵng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 23/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về