Bản án 26/2019/HSST ngày 28/03/2019 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ TĨNH, TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 26/2019/HSST NGÀY 28/03/2019 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 28 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2019/HSST, ngày 06 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2019/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:

Trần Đình V; Tên gọi khác: Trần Đình Q, Hồ Đình Q; Sinh ngày: 04/5/1960; Nơi cư trú: Tổ dân phố 7, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Đình L (Đã chết) và bà: Tô Thị Đ; Có vợ: Thái Thị H; Con: có 02 con, lớn sinh năm 1987, nhỏ sinh năm 1989; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 12/05/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh xử phạt 12 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo bản án số 28/2017/HSST, đến ngày 23/12/2017 chấp hành xong hình phạt tù; Nhân thân: Ngày 22/4/1993 bị TAND tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo bản án số 10/HSPT, thi hành xong bản án vào tháng 8 năm 1994; Ngày 06/02/1996 bị TAND thị xã Hà Tĩnh xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” theo bản án số 02/HSST, thi hành xong bản án vào tháng 12 năm 1996; Ngày 10/9/2014 bị Công an phường Nam Hà, thành phố Hà Tĩnh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức phạt tiền; Ngày 21/10/2014 bị Công an phường Nam Hà, thành phố Hà Tĩnh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức phạt tiền; Ngày 16/01/2015 bị Công an phường Nam Hà, thành phố Tĩnh xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức cảnh cáo; Ngày 05/5/2015 bị TAND thành phố Hà Tĩnh ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời gian 08 tháng; Chấp hành xong ngày 13/01/2016.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 21/12/2018 đến nay tại phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh ( bị cáo có mặt tại phiên toà).

*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Lê Văn H; Sinh năm: 1984; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Đội 10, xóm B, xã T, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt).

Ông Nguyễn Hữu B; Sinh năm: 1964; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Tổ dân phố 8, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt).

Ông Nguyễn Danh T; Sinh năm: 1968; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trú tại: Tổ dân phố 9, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (có mặt).

*Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn L; Sinh năm: 1984; Trú tại: Tổ dân phố 8, phường N, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/11/2018, Lê Văn H gặp một người đàn ông tên T (không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể) tại khu vực Chợ Hà Tĩnh thuộc phường N, thành phố H thì người tên T rủ đánh bạc. Lê Văn H đồng ý và cùng T đến quán V của Nguyễn Hữu B ở đường H thuộc tổ dân phố 8, phường N, thành phố H và rủ Nguyễn Hữu B đánh cùng. B đồng ý và vào nhà lấy một bộ bài Tú lơ khơ rồi cùng H và T ra bãi đất trống cạnh quán V và cùng nhau đánh bạc bằng hình thức đánh bài phỏm, được thua mỗi ván từ 5.000 đồng đến 25.000 đồng. Khoảng 13 giờ cùng ngày, Trần Đình V (đang có một tiền án về tội đánh bạc chưa được xóa án tích) đi từ nhà ở khối phố 7, phường N, thành phố H đến bãi đất trống ở cạnh quán V ở đường H thuộc phường N, thành phố H thì thấy Nguyễn Hữu B, Lê Văn H và người tên T đang đánh bạc nên xin vào đánh cùng. V, H, T, B đánh được một lúc thì người tên T có việc về trước nên Nguyễn Danh T vào đánh thay. Khoảng 14 giờ 25 phút cùng ngày thì bị lực lượng công an phường N, thành phố H phát hiện, lập biên bản sự việc.

Hình thức đánh bài “Phỏm” cụ thể như sau: Sử dụng bộ bài tú lơ khơ 52 quân, mỗi người tham gia được chia 9 quân bài, ván đầu tiên người nào chia thì được 10 quân bài, số quân bài còn lại sau khi chia xong được úp xuống giữa những người chơi và gọi đó là “bài nọc”. Sau đó người chia bài được đánh trước một quân bài cho người kế tiếp theo thứ tự vòng tròn, người thứ hai xem xét quân bài người thứ nhất đánh, nếu tạo thành “Phỏm” thì bốc quân bài đó lên, nếu không tạo thành “Phỏm” thì bốc một quân bài ở “bài nọc” rồi đánh một quân bài cho người kế tiếp, cứ thế tiếp tục đánh đến khi người chơi đánh hết 4 vòng thì kết thúc ván đánh. Những ván tiếp theo người nào thắng ván trước là người chia bài và được đánh trước. “Phỏm” tức là người nào có từ 3 quân bài trở lên cùng chất liên tiếp hoặc có từ 3 quân bài trở lên cùng hàng. Trong ván bài người nào có 3 phỏm thì được gọi là “Ù” và không có phỏm nào thì được gọi là “Cháy”. Sau khi kết thúc ván đánh, người chơi hạ “Phỏm” của mình xuống và cộng điểm các quân bài còn lại trên tay. Nếu người chơi nào cộng được ít điểm nhất thì người đó thắng và lấy của người ít điểm thứ 2 là 5.000 đồng, lấy của người ít điểm thứ 3 là 10.000 đồng, lấy của người ít điểm thứ 4 là 15.000 đồng. Nếu trong ván đánh mà có người nào bị “Cháy” thì phải trả cho người thắng là 20.000 đồng; người nào được “Ù” thì lấy của những người còn lại mỗi người 25.000 đồng. Ngoài ra, trong ván đánh người nào đánh cho người khác ăn quân bài thứ nhất để tạo thành “Phỏm” thì phải trả cho người ăn quân bài đó 5.000 đồng, đánh cho người khác ăn quân bài thứ hai thì phải trả cho người ăn quân bài đó 10.000 đồng, đánh cho người khác ăn quân bài “chốt hạ” (tức là người tiếp theo còn lượt đánh cuối cùng) thì phải trả cho người ăn quân bài đó 15.000 đồng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định được: Trần Đình V sử dụng số tiền 320.000 đồng, Lê Văn H khoảng 200.000 đồng, Nguyễn Hữu B khoảng 400.000 đồng, Nguyễn Danh T khoảng 500.000 đồng để đánh bạc, số tiền còn lại là của người đàn ông tên T. Số tiền mà Trần Đình V và những người liên quan sử dụng để đánh bạc là 1.500.000 đồng.

Bản cáo trạng số 20/CT-VKSTPHT ngày 04/3/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh đã truy tố Trần Đình V về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên luận tội giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt: bị cáo Trần Đình V từ 09 đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

Áp dụng khoản 3 Điều 321, khoản 2, 3 Điều 35 của Bộ luật hình sự, xử phạt bổ sung phạt tiền bị cáo: Trần Đình V từ 10 đến 12 triệu đồng và đề nghị xử lý vật chứng của vụ án.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và nhất trí với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ được áp dụng đối với bị cáo và không có ý kiến gì tranh luận. Trong lời nói sau cùng của mình bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Văn H, Nguyễn Hữu B, Nguyễn Danh T đều khai nhận: vào ngày 30/11/2018 có tham gia đánh bạc với Trần Đình V, dưới hình thức đánh bài “Phỏm”, được thua mỗi ván từ 5.000đ đến 25.000đ. Trong đó, Lê Văn H sử dụng số tiền 200.000đ, Nguyễn Hữu B 400.000đ, Nguyễn Danh T 500.000đ. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 1.500.000đ. Trước đó có một người đàn ông tên T chạy xe ôm có tham gia đánh bạc (không biết họ tên, địa chỉ cụ thể) nhưng có việc về trước nên T vào đánh thay. Khoảng 14 giờ 25 phút cùng ngày thì bị công an phường N, thành phố H phát hiện, lập biên bản sự việc và thu giữ cùng tang vật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] . Về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố Hà Tĩnh, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Tĩnh, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.

[2] . Về chứng cứ xác định tội danh:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 30/11/2018, tại bãi đất trống cạnh quán V ở đường H, thuộc phường N, thành phố H, Trần Đình V (đang có một tiền án về tội Đánh bạc chưa được xóa án tích) đánh bạc bằng hình thức đánh bài phỏm, được thua mỗi ván từ 5.000 đồng đến 25.000 đồng với Nguyễn Hữu B, Lê Văn H và Nguyễn Danh T; Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 1.500.000 đồng, trong đó V sử dụng 320.000 đồng để đánh bạc. Đến 14 giờ 25 phút cùng ngày, khi Trần Đình V và những người trên đang đánh bạc thì bị lực lượng công an phường N, thành phố H phát hiện, lập biên bản sự việc, thu giữ cùng tang vật.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, thời gian, địa điểm bị cáo thực hiện tội phạm, đặc điểm vật chứng vụ án được thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Hành vi của bị cáo là đánh bạc dưới hình thức đánh bài “Phỏm” thắng thua sát phạt nhau bằng tiền mỗi ván từ 5.000đ đến 25.000đ, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 1.500.000đ. Mặc dù, số tiền sử dụng để đánh bạc dưới 5.000.000đ. Tuy nhiên, Trần Đình V đã có tiền án về tội Đánh bạc chưa được xóa án tích, đây là tình tiết định tội đối với bị cáo. Hành vi trên của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự nếp sống văn minh của xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ kết tội bị cáo Trần Đình V phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Trong vụ án này, có Lê Văn H, Nguyễn Hữu B và Nguyễn Danh T là những người trực tiếp đánh bạc với Trần Đình V. Tuy nhiên tổng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên Công an thành phố H ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Văn H, Nguyễn Hữu B và Nguyễn Danh T là phù hợp.

Đối với người đàn ông tên T mà những người trên khai đã đánh bạc cùng, quá trình điều tra không xác minh được người này nên Cơ quan điều tra tách ra xử lý sau là đúng quy định pháp luật.

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng và được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo đây là tình tiết giảm quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo nhiều lần bị xử lý hành chính, nhiều lần bị Tòa án kết án, ra tù được một thời gian ngắn lại tiếp tục phạm tội. Qua đó, chứng tỏ bị cáo là đối tượng khó giáo dục cải tạo nên cần lên một mức án nghiêm minh. Cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảo bảo việc răn đe, giáo dục và cải tạo đối với bị cáo.

[4] . Về hình phạt bổ sung: Cần áp dụng khoản 3 Điều 321; khoản 2, 3 Điều 35 của Bộ luật hình sự, xử phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[5] . Xét luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa: về tội danh, khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật, về mức án đề nghị là thỏa đáng.

[6] . Về xử lý vật chứng: Cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 1.500.000đ, tiền bị cáo và những người liên quan sử dụng để đánh bạc.

Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTH, tịch thu và tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài.

[7] . Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự,

Tuyên bố Trần Đình V phạm tội “Đánh Bạc”.

Xử phạt: Trần Đình V 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

Áp dụng khoản 3 Điều 321, khoản 2, 3 Điều 35 của Bộ luật hình sự, xử phạt bổ sung phạt tiền bị cáo Trần Đình V 10.000.000đ (mười triệu đồng).

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 1.500.000đ, tiền bị cáo và những người liên quan sử dụng để đánh bạc.

Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu và tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân bài.

(Tình trạng, đặc điểm của vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 05/3/2019 giữa cán bộ Công an thành phố Hà Tĩnh và cán bộ Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hà Tĩnh).

Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Đình V phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.


45
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 26/2019/HSST ngày 28/03/2019 về tội đánh bạc

Số hiệu:26/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Hà Tĩnh - Hà Tĩnh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:28/03/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về