Bản án 26/2019/HS-ST ngày 11/09/2019 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI, TỈNH BẠC LIÊU 

BẢN ÁN 26/2019/HS-ST NGÀY 11/09/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 11 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2019/TLST-HS ngày 31 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2019/QĐXXST-HS ngày 28/8/2019 đối với bị cáo:

- Họ tên: Cao Kim Đ; sinh ngày 29/01/2000, tên gọi khác: không, tại: Bạc Liêu; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: khóm 2, phường 1, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Cao Huỳnh N và bà Lê Thị Hồng G; có 02 anh, em, lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2004; tiền án: không, tiền sự: 01 lần: ngày 16/11/2017 bị Công an huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “trộm cắp tài sản”, số tiền phạt 750.000 đồng, đóng phạt ngày 18/12/2017. Bị cáo bị khởi tố cho tại ngoại sau đó bỏ trốn, bị truy nã đến ngày 09/5/2019 bị cáo ra đầu thú và cho tại ngoại đến nay (bị cáo có mặt)

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1978 Địa chỉ: ấp 19, xã Phong T, thị xã G, tỉnh B (vắng mặt có đơn).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại Cáo trạng số 26/CT-VKSGR ngày 30/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai truy tố bị cáo Cao Kim Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 do vào khoảng 13 giờ ngày 03/02/2018, bị cáo Cao Kim Đ sau khi đánh bi da với người bạn tại xã Phong Thạnh, thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xong thì bị cáo ra đường định đón xe về nhà thuộc phường 1, thị xã Giá Rai nhưng khi đi đến nhà anh Nguyễn Văn Đ1 thuộc ấp 19, xã Phong T, thị xã G, tỉnh B thì phát hiện cổng nhà anh Đ1 đang mở mà không có người nên Đ nảy sinh ý định vào nhà để trộm cắp tài sản. Đ đi vào nhà, ra phía sau thì phát hiện 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy J7 nên lấy bỏ vào túi quần, sau đó Đ lên nhà trước thấy chiếc xe đang dựng ở sân trước cửa nhà thì Đ đi đến chiếc xe dùng tay đưa vào yên xe lấy được 01 cái bóp, bên trong bóp có tiền nên Đ lấy hết số tiền 2.700.000 đồng và để lại cái bóp. Lấy được tài sản thì Đ đón xe đến phường Láng T, thị xã G chơi game và trả số tiền chơi game thiếu trước đó 2.500.000 đồng, số tiền còn lại Đ tiêu xài cá nhân. Sim điện thoại trong điện thoại thì Đ tháo ra quăng bỏ để anh Đ1 không liên lạc được. Khi phát hiện bị mất tài sản thì anh Đ1 báo chính quyền địa phương, qua điều tra Công an thị xã Giá Rai mời Cao Kim Đ làm việc thì Đ thừa nhận toàn bộ hành vi lấy trộm tài sản của mình và giao nộp chiếc điện thoại của anh Đ1 cùng số tiền 40.000 đồng còn lại của số tiền Đ lấy trộm được.

Tại bản kết luận giám định giá trị tài sản số 09 ngày 08/02/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Giá Rai kết luận: giá trị chiếc điện thoại hiệu Samsung Galaxy J7 của anh Nguyễn Văn Đ1 có giá trị còn lại là: 1.921.500 đồng. Như vậy, Cao Kim Đ đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Văn Đ1 tổng số tài sản có giá trị là: 4.621.500 đồng.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Cao Kim Đ về tội “Trộm cắp tài sản” và đề xuất áp dụng khoản 1 Điều 173, 90, 91 và 101 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa, bổ sung năm 2017; xử phạt bị cáo Cao Kim Đ từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự và vật chứng không đặt ra giải quyết.

- Bị cáo Cao Kim Đ thừa nhận đã thực hiện hành vi lấy trộm tài sản của anh Nguyễn Văn Đ1 đúng như cáo trạng truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, tài sản mà bị cáo trộm đã thu hồi để trả cho chủ sở hữu và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ căn cứ để kết luận vào ngày 03 tháng 02 năm 2018 bị cáo Cao Kim Đ đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm chiếc điện thoại hiệu Samsung Galaxy J7 và số tiền 2.700.000 đồng của anh Nguyễn Văn Đ1. Chiếc điện thoại hiệu Samsung Galaxy J7 qua định giá có giá trị 1.921.500 đồng, tổng giá trị tài sản mà bị cáo Cao Kim Đ lấy trộm của bị hại Nguyễn Văn Đ1 là 4.621.500 đồng. Trong lúc thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản, bị cáo Đ có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; bị cáo biết rõ việc lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên hành vi bị cáo đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[2] Về tính chất mức độ gây nguy hiểm: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của anh Nguyễn Văn Đ1 mà còn gây tâm lý hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, làm mất an ninh trật tự tại địa phương.

[3] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng như: bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt lại, khắc phục hậu quả, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; bị cáo đầu thú, bị hại Nguyễn Văn Đ1 có đơn bãi nại, miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Đ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuy bị cáo không có tiền án nhưng bị cáo có 01 tiền sự về hành vi trộm cắp tài, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, bị cáo đã đóng phạt xong nhưng lần phạm tội này bị cáo thực hiện khi chưa thành niên. Vì vậy cần xử lý nghiêm đối với bị cáo để không chỉ có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo mà còn mang tính phòng ngừa chung trong xã hội. Do đó, cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định như lời đề nghị của kiểm sát viên. Trên cơ sở đó, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề xuất của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị lấy trộm đã giao trả lại cho bị hại Nguyễn Văn Đ1 và anh Đ1 không yêu cầu gì đối với bị cáo Đ nên không đặt ra xem xét.

[5] Hành vi tố tụng, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử thì Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

[6] Về án phí: Quá trình điều tra, bị cáo có cung cấp 01 giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo đối với chủ hộ Trương Thị Cúc (bút lục số 153) cùng các thành viên trong hộ có tên bị cáo Cao Kim Đ, đồng thời bị cáo Cao Kim Đ có đơn xin miễn tiền án phí do gia đình thuộc hộ cận nghèo gửi đến Tòa án. Do đó, bị cáo Cao Kim Đ không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo Cao Kim Đ có mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Nguyễn Văn Đ1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống Đ hợp lệ.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173, Điều 90, 91 và 101 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

2. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Cao Kim Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo Cao Kim Đ 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt chấp hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự và vật chứng: không đặt ra xem xét.

4. Về án phí: áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo Cao Kim Đ được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa nên được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Nguyễn Văn Đ1 vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống Đ hợp lệ.


15
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 26/2019/HS-ST ngày 11/09/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:26/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Giá Rai - Bạc Liêu
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 11/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về