Bản án 26/2019/HNGĐ-ST ngày 26/04/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 26/2019/HNGĐ-ST NGÀY 26/04/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 26 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2019/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp "ly hôn".

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Juan Shih Chin M, sinh năm: 1982

Địa chỉ: Số xx/1 đoạn 1, lộ Đ, khóm 0xx, phường T, khu Đ, thành phố Đ, Đài Loan.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1986

Địa chỉ: Ấp T, xã C, huyện M, tỉnh Bến Tre. (Tại phiên toà nguyên đơn, bị đơn vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 3 năm 2019, bản tự khai, đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn là bà Juan Shih Chin M trình bày:

Bà và ông Thành T quen biết nhau và sau thời gian tìm hiểu thì tự nguyện tiến đến hôn nhân. Hai bên có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre ngày 26/5/2017. Sau khi kết hôn thì bà Chin M quay về Đài Loan sinh sống, ông T ở lại Việt Nam, hai người ở cách xa nhau và không có cơ hội gặp mặt. Do cách trở địa lý, hai vợ chồng không ở cùng một nơi nên tình cảm giữa vợ chồng không được vun đắp. Nay bà thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống vợ chồng không thể kéo dài nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà những vấn đề sau:

Về hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thành T, không yêu cầu cấp dưỡng vợ chồng sau ly hôn.

Về con chung, về tài sản chung, về nợ chung: Bà trình bày là không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do bà phải trở về Đài Loan, cách trở địa lý nên không thể tham gia vụ kiện. Do đó, bà xin được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của vụ án bao gồm tất cả phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, các phiên xét xử của Toà.

Theo bản khai, đơn cam kết giải quyết vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Thành T trình bày:

Ông biết được sự việc bà Juan Shih Chin M nộp đơn ra Toà yêu cầu giải quyết ly hôn với ông. Những nội dung mà bà Chin M nêu trong đơn khởi kiện ông xác nhận là đúng sự thật và không có bổ sung gì khác. Đối với yêu cầu của bà Chin M, ông đồng ý ly hôn với bà Chin M; về con chung, nợ chung và tài sản chung: Không có. Do hiện tại ông bận làm ăn xa, công việc bận rộn không có điều kiện để về tham gia vụ kiện. Do đó, ông xin được vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng của vụ án bao gồm tất cả phiên họp giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, các phiên xét xử của Toà.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Quan hệ tranh chấp giữa bà Juan Shih Chin M và ông Nguyễn Thành T là ly hôn, nguyên đơn bà Juan Shih Chin M đang ở nước ngoài (Đài Loan), bị đơn ông Nguyễn Thành T hiện đang ở Việt Nam nên căn cứ vào khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38 và Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

[2] Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, cả bà Juan Shih Chin M và ông Nguyễn Thành T đều có yêu cầu Toà án giải quyết xét xử vắng mặt. Theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà Chin M và ông Thành T.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Juan Shih Chin M và ông Nguyễn Thành T sau thời gian tìm hiểu đã tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân huyện Mỏ Cày Nam và được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 26 tháng 5 năm 2017 nên hôn nhân giữa bà Juan Shih Chin M và ông Nguyễn Thành T là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, bà Chin M quay về Đài Loan sinh sống, ông T ở lại Việt Nam. Hai vợ chồng không có điều kiện gặp mặt nên tình cảm không được vun đắp mà phai nhạt dần. Nay bà Chin M nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông T. Theo lời trình bày của ông T thì ông cũng đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà Chin M. Xét thấy, cả hai bên đương sự đều cương quyết ly hôn, bà Chin M và ông T có đơn xin Toà giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tham gia tố tụng, do đó Toà án cũng không thể hoà giải đoàn tụ theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thấy rằng hôn nhân của bà Chin M và ông T đã lâm vào tình trạng nghiêm trọng, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc bà Chin M yêu cầu ly hôn với ông T là có cơ sở nên được chấp nhận.

[4] Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Bà Chin M và ông T đều trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này có sự tranh chấp thì các bên có liên quan có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

[5] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch: Bà Juan Shih Chin M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38 và Điều 40, 147, 227, 228, 477 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 56 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Juan Shih Chin M.

Về hôn nhân: Bà Juan Shih Chin M được ly hôn với ông Nguyễn Thành T.

Về con chung, về tài sản chung và về nợ chung: Bà Juan Shih Chin M và ông Nguyễn Thành T thống nhất trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên ghi nhận. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì bên có liên quan có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Juan Shih Chin M phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006765 ngày 08 tháng 3 năm 2019 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bến Tre.

Bà Juan Chin M được quyền kháng cáo trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật; ông Nguyễn Thành T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án.


24
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 26/2019/HNGĐ-ST ngày 26/04/2019 về ly hôn

Số hiệu:26/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Bến Tre
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 26/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về