Bản án 26/2019/HNGĐ-ST ngày 21/10/2019 về không công nhận vợ chồng

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH GIANG, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 26/2019/HNGĐ-ST NGÀY 21/10/2019 VỀ KHÔNG CÔNG NHẬN VỢ CHỒNG

Ngày 21/10/2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Ninh Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 145/2019/TLST-HNGĐ ngày 17/7/2019 về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/9/2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1977; Có mặt tại phiên tòa.

Bị đơn: Anh Nguyễn Duy T, sinh năm 1969; Vắng mặt lần thứ hai.

Đều có địa chỉ: thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Duy T quen biết nhau từ khi làm kinh tế ở trong miền Nam và về sống với nhau như vợ chồng từ năm 2000. Từ năm 2000 đến nay, chị và anh T không đi làm thủ tục đăng ký kết hôn. Khi về sống với nhau đến năm 2009 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do kinh tế khó khăn và anh T thường xuyên cờ bạc. Chị có khuyên bảo rất nhiều lần nhưng anh T không chịu sửa chữa. Đến năm 2010 chị chán nản nên đã bỏ ra ngoài thuê nhà ở thôn L, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương, sau đó nghĩ thương con nên chị quay lại đoàn tụ với anh T. Đến tháng 9/2018 vợ chồng lại xảy ra mâu thuẫn, chị không chịu đựng được nên đã bỏ ra ngoài thuê nhà ở thôn Nho Lâm, xã Văn Tố, huyện Tứ kỳ, tỉnh Hải Dương. Chị xác định mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nhất từ tháng 9/2018 cho đến nay. Vợ chồng sống ly thân từ thời điểm chị bỏ ra ngoài thuê nhà ở thôn Nho Lâm, xã Văn Tố, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương cho đến nay, không ai quan tâm gì đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T không còn nên chị đề nghị giải quyết không công nhận vợ chồng giữa chị và anh T.

Về con chung: Chị và anh T có hai con chung là Nguyễn Huy Hoàng Thắng, sinh ngày 21/3/2001 và Nguyễn Huy Hoàng Th, sinh ngày 21/7/2011. Do con chung Nguyễn Huy Hoàng Thắng đã đủ tuổi trưởng thành, đã có công việc ổn định nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Đối với con chung Nguyễn Huy Hoàng Th đang ở với anh T. Chị đề nghị Tòa án giao con chung cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, do chị kinh tế rất khó khăn hiện đang phải đi làm để trả khoản nợ do chị đứng tên vay, khi vợ chồng sửa chữa nhà cửa nên chị không cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T.

Ti phiên tòa: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

Đại diện VKSND huyện Ninh Giang phát biểu ý kiến, xác định Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành tốt các quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án, đề nghị HĐXX:

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Duy T.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Huy Hoàng Th, sinh ngày 21/7/2011cho anh Nguyễn Duy T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Án phí: Chị Nguyễn Thị H tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị H có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án không công nhận vợ chồng giữa chị và anh Nguyễn Duy T đây là vụ án “Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình” quy định tại khoản 8 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; anh Nguyễn Duy T là bị đơn hiện đang cư trú tại thôn Đ, xã N, huyện N nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc Tòa án nhân dân huyện Ninh Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Duy T được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng anh đều vắng mặt không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 277 của Bộ luật tố tụng dân sự. HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh T.

[2]. Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn: Từ năm 2000 đến nay, chị H và anh T chung sống với nhau như vợ chồng, nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình. Quá trình chung sống từ năm 2009 đến nay, chị H và anh T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Chị H có yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị và anh T.

Tại Biên bản xác minh ngày 08/8/2019 (Bút lục: 22- 23) UBND xã N, huyện N, tỉnh Hải Dương cung cấp: Chị H và anh T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2000 đến nay. Qua kiểm tra sổ Đăng ký kết hôn thì không thể hiện việc chị H và anh T đăng ký kết hôn. Vợ chồng thường xuyên đánh cãi chửi nhau. Mâu thuẫn trầm trọng nhất từ năm 2009 đến nay. Quan điểm địa phương do anh chị không có đăng ký kết hôn nên đề nghị Tòa án không công nhận vợ chồng giữa chị H và anh T.

Như vậy, việc chung sống giữa chị H và anh T đã vi phạm khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình; Mục đích chung sống giữa hai người không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình. HĐXX xét thấy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H về việc không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị H và anh T.

Về quan hệ con chung: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Duy T có hai con chung là Nguyễn Huy Hoàng Thắng, sinh ngày 21/3/2001 và Nguyễn Huy Hoàng Th, sinh ngày 21/7/2011. Do con chung Nguyễn Huy Hoàng Thắng đã đủ tuổi trưởng thành, đã có công việc ổn định nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Đối với con chung Nguyễn Huy Hoàng Th đang ở với anh T. Chị đề nghị Tòa án giao con chung cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, do chị kinh tế rất khó khăn hiện đang phải đi làm để trả khoản nợ do chị đứng tên vay, khi vợ chồng sửa chữa nhà cửa nên chị không cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T. Nguyện vọng của chị H là phù hợp với cháu Nguyễn Huy Hoàng Th xin được ở với anh T. Do vậy, cần giao con chung Nguyễn Huy Hoàng Th cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 15, Điều 81, 82,83 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 9; khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53; Điều 15, 81, 82, 83- Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 8 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 277; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Duy T.

Về quan hệ nuôi con chung: Giao Nguyễn Huy Hoàng Th, sinh ngày 21/7/2011 cho anh Nguyễn Duy T nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí chị đã nộp theo biên lai thu số AA/2017/0004811, ngày 17/7/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương. Chị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 271, 273- BLTTDS.

Nguyên đơn, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (21/10/2019). Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


11
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 26/2019/HNGĐ-ST ngày 21/10/2019 về không công nhận vợ chồng

Số hiệu:26/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ninh Giang - Hải Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 21/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về