Bản án 26/2019/HNGĐ-ST ngày 19/04/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 26/2019/HNGĐ-ST NGÀY 19/04/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 19 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1308/2018/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xửsố: 22/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2019 và quyết định hoãn phiên tòa số: 20/2019/QĐST-HNGĐ ngày 02/4/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trịnh Trần M, sinh năm 1989; thường trú: Số 62 (số cũ 184/5), đường A, khu phố B, phường A, thị xã D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc K, sinh năm 1981; thường trú: Số 70 (số cũ 878/10A), đường L, khu phố Đ, phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Trịnh Trần Minh trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trịnh Trần M và anh Nguyễn Quốc K sau thời gian tự nguyện tìm hiểu, tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện D (nay là phường T, thị xã D), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 141/KH/07, quyển số 01, cấp ngày 02/10/2007. Sau khi kết hôn, hai vợ chồng chung sống tại phường T, thị xã D, tỉnh Bình Dương được khoảng 06 năm thì chị M chuyển về nhà mẹ ruột sinh sống cho đến nay. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc được 06 năm thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, anh K ham mê đánh bạc, sử dụng ma túy. Chị M cùng gia đình đã nhiều lần khuyên và giúp đỡ để anh K cai nghiện nhưng không có kết quả, vì vậy mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2013 cho đến nay nên nguyên đơn xác định không còn tình cảm với chồng nên yêu cầu được ly hôn với bị đơn.

Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có một người con chung, tên Nguyễn Minh K1, sinh ngày 17/8/2009, hiện đang sống chung với nguyên đơn. Vì vậy nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung khi ly hôn và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn đã được Toà án thông báo về việc thụ lý vụ án, tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không đến Toà án làm việc, không cung cấp lời khai, không có yêu cầu phản tố và không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:

Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến tại phiên tòa sơ thẩm Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật.

Về hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng sống không hạnh phúc do mâu thuẫn kéo dài, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó việc nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn và yêu cầu giải quyết về con chung là có cơ sở chấp nhận. Về tài sản chung và nợ chung nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét là phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa vào các ngày 02/4/2019 và ngày 19/4/2019 nhưng đều vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả các đương sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Năm 2007 chị Trịnh Trần M và anh Nguyễn Quốc K tự nguyện tìm hiểu tiến đến hôn nhân có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện D (nay là phường T, thị xã D), tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 141/KH/07, quyển số 01, cấp ngày 02/10/2007 nên quan hệ hôn nhân là hợp pháp.

[2.2] Nguyên đơn xác định sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được 06 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do cả hai người không hợp tính tình, bị đơn mê chơi đánh bạc, sử dụng ma túy. Mặc dù bị đơn đã được gia đình tạo mọi điều kiện để cai nghiện và khuyên nhủ nhiều nhưng không thay đổi. Từ đó dẫn đến cuộc sống vợ chồng không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung, làm cho không khí gia đình ngột ngạt nên tình cảm của nguyên đơn giành cho chồng cũng phai nhạt dần nên vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm nay. Sau khi Tòa án thụ lý vụ án và nhiều lần triệu tập nguyên đơn đến làm việc, hòa giải nhằm mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bị đơn không có mặt. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng của bị đơn đối với nguyên đơn thực sự không còn và cả hai bên đều không muốn hàn gắn.

[2.3] Xét thấy mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc. Để đạt được mục đích, vợ chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Việc bị đơn không quan tâm đến hòa giải đoàn tụ để hàn gắn quan hệ hôn nhân với nguyên đơn cho thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Tòa án chấp nhận.

[2.4] Về con chung: Chị Trịnh Trần M và anh Nguyễn Quốc K có một con chung tên Nguyễn Minh K1, sinh ngày 17/8/2009. Hiện con chung đang ở cùng với mẹ nên nguyên đơn yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét về mọi mặt của con chưa thành niên. Trong suốt quá trình tố tụng mặc dù đã được Tòa án niêm yết các văn bản có nêu rõ yêu cầu của nguyên đơn về vấn đề này cho bị đơn nhưng không có ý kiến phản đối gì; mặt khác yêu cầu của nguyên đơn phù hợp với nguyện vọng của con chung. Xét thấy, cháu K1 từ nhỏ đến nay sống chung với mẹ và được quan tâm chăm sóc nhiều, hiện vẫn phát triển tốt. Do đó, Tòa án chấp nhận yêu cầu giao con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2.5] Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Nguyên đơn con đang sống cùng cha mẹ ruột, hàng tháng được trả tiền công trông coi nhà trọ thu nhập khoảng 10.000.000đồng/tháng, vì vậy nguyên đơn yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con.

Xét đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên Tòa án ghi nhận.

[2.6] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét.

[2.7] Từ những phân tích nêu trên, Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm nhân dân thị xã D, tỉnh Bình Dương.

[2.8] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147, 238, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ các Điều 51, 56, 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Chị Trịnh Trần M được ly hôn với anh Nguyễn Quốc K(theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 141/KH/07, quyển số 01, cấp ngày 02/10/2007 của UBND xã T, huyện D (cũ), tỉnh Bình Dương).

2. Về con chung: Giao người con chung tên Nguyễn Minh K1, sinh ngày 17/8/2009 cho chị Trịnh Trần M trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trịnh Trần M không yêu cầu anh Nguyễn Quốc K cấp dưỡng nuôi con.

Sau ly hôn, chị Trịnh Trần M và anh Nguyễn Quốc K có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở anh, chị thực hiện quyền này. Trường hợp anh Nguyễn Quốc K lạm dụng việc đi lại, thăm nom con gây ảnh hưởng xấu đến việc chị Trịnh Trần M nuôi con thì chị M có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của anh K theo quy định của pháp luật. Vì quyền lợi hợp pháp của con, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con và vấn đề cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

3. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trịnh Trần M phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí về ly hôn được khấu trừ hết vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0027912 ngày 25/12/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã D, tỉnh Bình Dương.

5. Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.


43
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 26/2019/HNGĐ-ST ngày 19/04/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:26/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Dĩ An - Bình Dương
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:19/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về