Bản án 26/2018/HS-ST ngày 09/08/2018 về tội trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 26/2018/HS-ST NGÀY 09/08/2018 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 09 tháng 8 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2018/TLST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 26/2018/QĐXXST- HS ngày 26 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Bùi Hữu H (tên gọi khác: B), sinh năm 1990 tại Ninh Thuận; nơi đăng ký thường trú: thôn L, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: làm nông; trình độ văn hoá (học vấn) 06/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Xuân V và bà Lê Thị L; tiền sự: không; tiền án: Bản án số 33/2016/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2016 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận; Bản án số 36/2016/HSPT ngày 08 tháng 9 năm 2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận; bị bắt, tạm giam ngày 23-3-2018, có mặt.

- Bị hại:

Anh Nguyễn Văn L (tên gọi khác: T), sinh năm 1993

Nơi cư trú: Thôn 2, xã H, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Bùi Thanh T, sinh năm 1992

Nơi cư trú: thôn L, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 21 giờ ngày 22-3-2018, Bùi Thanh T điều khiển xe mô tô biển số 49V7 – 3951 chở Bùi Hữu H đến khách sạn Sơn Ngọc ở thôn 2, xã H, huyện D. Khi đến khách sạn Sơn Ngọc, T điều khiển xe trên đi uống cà phê, còn H vào khách sạn Sơn Ngọc. Đến 22 giờ 40 phút cùng ngày H đi ra phía trước cửa khách sạn, H thấy trong nhà xe bên phải có một xe mô tô biển số 49G1 – 04126 của anh Nguyễn Văn L dựng ở đó. Quan sát xung quanh thấy không ai trông coi, H nảy sinh ý định trộm cắp xe để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. H đến vị trí để xe, do xe chỉ khóa điện, không khóa cổ nên H dắt xe ra đường và tiếp tục dắt bộ về nhà anh Hoàng Văn C (chủ nhà nơi H làm thuê) rồi dắt xe ra phía sau nhà cất giấu và đi ngủ.

Căn cứ Kết luận về định giá tài sản số 164/KL-HĐĐG ngày 23-3-2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Di Linh xác định: Xe máy biển số 49G1-04126, hiệu Yamaha Exciter, màu xanh trắng có giá trị là 26.400.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ: 01 xe máy biển số 49G1-04126. Hiệnnay đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Văn L và 01 xe máy biển số 49V7-3951. H khai xe này H mua của một người ở Thành phố Hồ Chí Minh nhưng không có giấy tờ mua bán, không có giấy đăng ký. Ngày 19-4-2018, Cơ quan cảnh sát điều tra có công văn số 33/CV-ĐN gửi Phòng PV 67 Công an tỉnh Lâm Đồng đề nghị tra cứu chủ sở hữu phương tiện, đến nay chưa có kết quả tra cứu nên tiếp tục giao cho Công an huyện Di Linh xác minh làm rõ xử lý theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại xe, không yêu cầu bị cáo bồi thường và không có yêu cầu gì khác.Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã có thái độ thành khẩnkhai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự khi xử lý.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị xét xử tại Bản án số 33/2016/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2016 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận và Bản án số 36/2016/HSPT ngày 08 tháng 9 năm 2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận. Bị cáo chấp hành án xong ngày 27-8-2017, chưa được xóa án tích nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Đối với Bùi Thanh T khai khi thấy H dắt xe về nhà thì T có hỏi H về nguồn gốc xe nhưng H không nói gì nên T không biết việc H trộm cắp xe máy, không có cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự đối với Bùi Thanh T.

Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 05 tháng 7 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh đã truy tố bị cáo Bùi Hữu H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh giữquyền công tố luận tội và tranh luận:

- Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo cáo trạng đã công bố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 xét xử bị cáo Bùi Hữu H từ 30 đến 36 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23-3-2018.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại xe, không yêu cầu bị cáo bồi thường và không có yêu cầu gì khác.

- Về vật chứng: 01 xe máy biển số 49G1-04126, đã trả lại cho chủ sở là anh Nguyễn Văn L theo biên bản về việc trả lại tài sản ngày 28-3-2018, anh L không có ý kiến gì, nên không đề cập giải quyết và 01 xe máy biển số 49V7-3951, chưa xác minh được nguồn gốc nên giao cho Công an huyện Di Linh xử lý theo thẩm quyền.

- Về án phí: Bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nói lời sau cùng: Thưa Hội đồng xét xử, trong thời gian bị tạm giam bị cáo suy nghĩ thấy ăn năn, hối lỗi về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo cải tạo tốt, sớm trở về hòa nhập với cộng đồng, làm công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi và các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Di Linh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến thắc mắc hoặc khiếu nại về hành vi và các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi và các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Bùi Hữu H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, vì muốn có tiền để phục vụ nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã có hành vi lén lút, lợi dụng sơ hở của bị hại để trộm cắp tài sản trị giá 26.400.000 đồng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, kết luận điều tra và cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh đã truy tố. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo biết rõ tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, vì muốn có tiền tiêu xài nhưng lười lao động. Hành vi của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm tài sản của công dân mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, làm cho nhân dân hoang mang và không yên tâm lao động sản xuất. Do vậy, việc xét xử đối với bị cáo phải thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. 

- Về tình tiết tăng nặng: Căn cứ vào trích lục tiền án, tiền sự của Phòng PV27Công an tỉnh Lâm Đồng và lý lịch bị cáo thể hiện: Bị cáo bị xét xử tại Bản án số 33/2016/HSST ngày 11 tháng 7 năm 2016 của Tòa án nhân dân huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thuận và Bản án số 36/2016/HSPT ngày 08 tháng 9 năm 2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận. Bị cáo chấp hành án xong ngày 27-8-2017, chưa được xóa án tích là tái phạm nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cũng đủ tác dụng đối với bị cáo, đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[4] Đối với Bùi Thanh T khai khi thấy Hoàng dắt xe về nhà thì T có hỏi H về nguồn gốc xe, nhưng H không nói gì nên T không biết việc H trộm cắp xe máy, không có cơ sở để xử lý trách nhiệm hình sự đối với Bùi Thanh T.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Văn L đã nhận lại tài sản bị mất, không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về vật chứng: 01 xe máy biển số 49G1-04126, đã trả lại cho chủ sở là anh Nguyễn Văn L theo biên bản về việc trả lại tài sản ngày 28-3-2018, anh L không có ý kiến gì, nên không đề cập giải quyết và 01 xe máy biển số 49V7-3951, chưa xác minh được nguồn gốc nên giao cho Công an huyện Di Linh xử lý theo thẩm quyền.

[7] Về án phí: Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Bùi Hữu H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Bùi Hữu H 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23 tháng 3 năm 2018.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Bùi Hữu H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.


59
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 26/2018/HS-ST ngày 09/08/2018 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:26/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Di Linh - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 09/08/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về