Bản án 26/2018/HNGĐ-ST ngày 17/05/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN

BẢN ÁN 26/2018/HNGĐ-ST NGÀY 17/05/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 17 tháng 5 năm 2018 tại phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 722/2017/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 11 năm 2017 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/4/2018 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1968 (có mặt)

Bị đơn: Ông Ngô Văn H2, sinh năm 1964 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Số 136/69 T. C khu phố 2 phường V. H, thành phố P, Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H1 trình bày: bà và ông Ngô Văn H2 tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Văn Hải vào năm 1989. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn vì ông H2 đam mê cờ bạc gây nợ nần nhiều và thường kiếm chuyện chửi mắng, xúc phạm danh dự bà. Bà đã từng 03 lần nộp đơn đến Tòa án xin ly hôn nhưng vì con cái khuyên nhủ nên bà muốn cho ông H2 cơ hội để sửa chữa nên đều rút đơn nhưng nay ông H2 vẫn chứng nào tật nấy, vợ chồng chung sống nhưng cũng không còn quan tâm gì đến nhau. Nay cả hai đã sống ly thân và tình cảm không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông H2.

Về con chung: có 02 người con là Ngô Trung H3, sinh năm 1990 và Ngô Thảo H4, sinh năm 1996. Các con đã trên 18 tuổi, lao động tự túc được.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

Trong bản tự khai và biên bản hòa giải bị đơn là ông Ngô Văn H2 trình bày: Ông thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị H1 về hôn nhân và con chung. Ông thừa nhận vợ chồng chung sống cũng có lúc xảy ra cải do không hiểu nhau, ông có nói nặng lời với bà H1 và có vay mượn tiền bên ngoài để sử dụng cá nhân, chơi cá độ. Tuy nhiên, ông cho rằng còn thương vợ muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nên ông không đồng ý ly hôn. Ông xác định vợ chồng vẫn chung sống một nhà nhưng không còn quan tâm đến nhau. Ông không yêu cầu giải quyết tài sản chung, nợ chung.

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Về thủ tục tố tụng:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

- Sự vắng mặt của đương sự: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông H2 vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 điều 227 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

- Quan hệ pháp luật tranh chấp : Đây vụ án tranh chấp về “Ly hôn” theo khoản 1 Điều 28, khoản 1 điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND Thành phố Phan rang- Tháp chàm.

-Sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát: Quá trình thụ lý giải quyết việc thu thập chứng cứ không do Tòa án tiến hành nên theo quy định tại khoản 2 điều 21 của Bộ luật Tố tụng Dân sự không có Viện kiểm sát tham gia phiên tòa.

Về nội dung:

[1] Quan hệ hôn nhân: giữa bà H1 và ông H2 chung sống hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, không tôn trọng danh dự, nhân phẩm cho nhau. Theo cung cấp của Chính quyền địa phương nơi cư trú thì “ông H2, bà H1 sống không có hạnh phúc, ông H2 đam mê cờ bạc gây nợ nần và mâu thuẫn không còn khả năng hàn gắn được nữa”. Đồng thời, bà H1 nhiều lần nộp đơn đến Tòa án xin ly hôn nhưng sau khi được hòa giải đoàn tụ ông H2, bà H1 vẫn không thể nào sum họp, dung hòa được cuộc sống chung. Ông H2 xin đoàn tụ nhưng không hẳn xuất phát từ nhu cầu hàn gắn tình cảm vợ chồng bởi lẽ giữa ông và bà H1 đã không còn sự quan tâm, chia sẻ, gắn bó lẫn nhau. Hơn nữa, ông H2 nhận quyết định xét xử nhưng cũng không có mặt tại phiên tòa, chứng tỏ ông đã bỏ mặc hôn nhân. Xét tình trạng hôn nhân giữa bà H1 và ông H2 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, cả hai đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng. Do đó yêu cầu được ly hôn của bà H1 là có căn cứ phù hợp điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3]Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 điều 147 của BLTTDS năm 2015; điểm a khoản 5 điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (về hôn nhân) không có giá ngạch.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 điều 147, điểm b khoản 2 điều 227; khoản 3 điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị H1 đối với bị đơn là ông Ngô Văn H2.

Về hôn nhân: bà Nguyễn Thị H1 được ly hôn với ông Ngô Văn H2.

Về án phí: bà Nguyễn Thị H1 phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn), nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0014462 ngày 17/11/2017 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Phan rang – Tháp chàm. Bà H1 đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.

Án sơ thẩm xử công khai có mặt nguyên đơn - quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (17/5/2018); vắng mặt bị đơn - quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


74
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 26/2018/HNGĐ-ST ngày 17/05/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:26/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phan Rang Tháp Chàm - Ninh Thuận
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 17/05/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về