Bản án 26/2018/HNGĐ-ST ngày 13/04/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 26/2018/HNGĐ-ST NGÀY 13/04/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 13 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 226/2017/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 11 năm 2017 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 3 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2018/QĐST – HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Đới Thị S, sinh năm 1988, vắng mặt (Chị S có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa)

Địa chỉ: Khu phố 5, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

2. Bị đơn: Anh Hoàng Hữu L, sinh năm 1976, vắng mặt (Anh L vắng mặt tại phiên tòa không có lý do)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 11 năm 2017 và trong quá trình xét xử nguyên đơn Đới Thị S trình bày:

Về hôn nhân: Chị đăng ký kết hôn với anh Hoàng Hữu L tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 30/9/2008 (Giấy đăng ký số 44). Sau khi đăng ký kết hôn anh chị sống hạnh phúc được một thời gian, sau đó phát sinh mâu thuẫn, do anh L không quan tâm chăm sóc vợ con, bạo hành gia đình. Đến tháng 8 năm 2017 chị và anh đã sống ly thân cho đến nay. Nay chị S xét thấy tình cảm vợ chồng giữa chị và anh L không còn nên chị xin ly hôn với anh L.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Hoàng Phương U, sinh ngày 09/8/2009 và Hoàng Kim N, sinh ngày 13/10/2011. Hiện nay hai cháu đang ở với chị và cháu U có nguyện vọng ở với mẹ. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi cả hai cháu; không yêu cầu anh L cấp dưỡng.

Về chia tài sản và nợ: Chị S không yêu cầu giải quyết.

Trong quá trình xét xử, bị đơn Hoàng Hữu L vắng mặt và không có ý kiến gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung, giao hai con chung cho chị S nuôi dưỡng. Về tài sản, đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa. Tòa án nhân dân huyện H nhận định:

[2]. Về hôn nhân: Hôn nhân của chị Đới Thị S và anh Hoàng Hữu L là hôn nhân hợp pháp. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh Lkhông chăm lo cho gia đình, bạo hành gia đình. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Từ tháng 8 năm 2017 đến nay, hai bên đã sống ly thân. Nay chị S xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn với anh L. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định tại chương X Bộ luật tố tụng dân sự về việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cho anh L nhưng anh không có ý kiến gì đối với yêu cầu của chị S. Do đó, có căn cứ chấp nhận cho chị S và anh L ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

[3]. Về nuôi con chung: Chị S và anh L có 02 con chung. Hiện nay, hai cháu đang ở với chị S và cháu U có nguyện vọng ở với chị S. Do đó, cần giao hai cháu cho chị S trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu cấp dưỡng là phù hợp với Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn  nhân và gia đình.

[4]. Về chia tài sản và nợ: Chị S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

[5].Về án phí: Chị S phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn  nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điều 27, Tiểu mục 1.1 Mục 1 Phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Đới Thị S và anh Hoàng Hữu L.

2. Về nuôi con chung: Giao con chung Hoàng Phương U, sinh ngày 09/8/2009 và Hoàng Kim N, sinh ngày 13/10/2011 cho chị Đới Thị S trực tiếp nuôi dưỡng. Anh L có quyền đi lại thăm và chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

3. Về chia tài sản và nợ: Không yêu cầu nên không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Đới Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị S đã nộp theo Biên lai số 0016501 ngày 07/11/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


97
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 26/2018/HNGĐ-ST ngày 13/04/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:26/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hàm Thuận Nam - Bình Thuận
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:13/04/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về