Bản án 26/2018/HNGĐ-ST ngày 13/03/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 26/2018/HNGĐ-ST NGÀY 13/03/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN 

Ngày 13 tháng 3 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án thụ lý số 29/2018/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 02 năm 2018 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 444/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2018 giữa các đương sự:

-  Nguyên đơn: Chị Võ P, sinh năm 1986; ĐKHKTT: Ấp Đông Hòa A, xã Thới Tân, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ; hiện tạm trú: Thôn 2, xã Phả Lễ, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng. Có mặt

- Bị đơn: Anh PARK, sinh năm 1968; hiện cư trú: 113 Bugok – ri, Ganggyeong-eup, Nansan-si, Chung cheongnam-do, Hàn Quốc. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là chị Võ P trình bày: Chị và anh PARK kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Sở Tư Pháp tỉnh Cần Thơ vào ngày 22/10/2007. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống ở Việt Nam được 1 thời gian ngắn sau đó anh PARK bảo lãnh cho chị sang Hàn Quốc để vợ chồng đoàn tụ nhưng do bất đồng về phong tục tập quán, ngôn ngữ, anh PARK thường xuyên đi làm không về nhà dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm sống, lối sống. Năm 2010 chị bỏ anh PARK ra ngoài 1 thời gian sau đó về Việt Nam. Nay xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không thể đạt được vì vậy chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh PARK.

Về con chung và tài sản chung: Vợ chồng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong bản tự khai của bị đơn gửi về Tòa án, anh PARK trình bày: Anh thống nhất về quá trình kết hôn, lý do xin ly hôn do bất đồng quan điểm sống, lối sống , khả năng đoàn tụ không có. Vì vậy anh cùng đề nghị Tòa án cho anh được ly hôn với chị Phương. Về con chung, tài sản chung: Vợ chồng không có con chung và tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do anh PARK ở nước ngoài nên theo khoản 2 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án không tiến hành hòa giải được, trong quá trình giải quyết vụ án anh đề nghị được xét xử vắng mặt.

Tại phiên tòa, chị Võ P vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn vì chị cho rằng vợ chồng không có khả năng đoàn tụ. Vì vậy, chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh PARK.

Về con chung và tài sản chung: Vợ chồng không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Về tố tụng: Chị Võ P và anh PARK cùng có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết việc ly hôn của anh chị. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

[2]. Bị đơn hiện đang cư trú tại Hàn Quốc vắng mặt tại phiên toà nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ P và anh PARK kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Sở Tư pháp vào ngày 22/10/2007, theo quy định tại Điều 8; Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

[4]. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì anh PARK quay về Hàn Quốc để bảo lãnh cho chị Phương sang đoàn tụ nhưng do quá trình tìm hiểu quá ngắn, thường xuyên bất đồng ngôn ngữ, bất đồng phong tục tập quán, lối sống. khả năng đoàn tụ không có . Do đó cả chị Phương và anh PARK cùng có đơn đề nghị xin ly hôn để giải phóng cho nhau. Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Võ P và anh PARK mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 châp nhân đê nghi ly hôn của chị Võ P

[5]. Về con chung và tài sản chung: Chị Võ P và anh PARK không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[6]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ P là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7]. Về quyền kháng cáo: Chị Võ P và anh PARK được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ khoản 3 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273; Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Võ P

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ P được ly hôn anh PARK

2. Về con chung và tài sản chung: Chị Võ P và anh PARK không có con chung và tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Võ P phải chịu 300.000đ(ba trăm nghin đông) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng đươc trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghin đông) theo Biên lai sô 0010613 ngày 23 tháng 02 năm 2018 của Cục Thi hanh an dân sư thanh phô Hải Phòng. Chị Võ P đa nôp đu án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

+ Anh PARK được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.

+ Chị Võ P được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


135
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 26/2018/HNGĐ-ST ngày 13/03/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:26/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hải Phòng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:13/03/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về