Bản án 26/2017/HSST ngày 10/10/2017 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

BẢN ÁN 26/2017/HSST NGÀY 10/10/2017 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 10 tháng 10 năm 2017, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Thụy xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2017/HSST ngày 02 tháng 10 năm 2017 đối với các bị cáo: 

1. Nguyễn Văn C, sinh năm 1979 tại Hải Phòng; thường trú: Thôn Đ1, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp : Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1949 và bà Phạm Thị N, s inh năm 1954; có vợ là Nguyễn Thị T, sinh năm 1981; có 02 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/9/2017 đến ngày 15/9/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú: Có mặt.

2. Hoàng Văn T, sinh năm 1969 tại Hải Phòng; thường trú: Thôn Đ1, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/10; con ông Hoàng Ngọc Q (đã chết) và bà Phạm Thị B (đã chết); có vợ là Phạm Thị H, s inh năm 1973; có 02 con, lớn s inh năm 1995, nhỏ sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/9/2017 đến ngày 15/9/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú: Có mặt.

3. Vũ Văn C1, sinh năm 1978 tại Hải Phòng; thường trú: Thôn Đ1, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; con ông Vũ Văn T, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1951; có vợ là Nguyễn Thị M, sinh năm 1978; có 02 con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2006; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/9/2017 đến ngày 15/9/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏ i nơi cư trú: Có mặt.

4. Vũ Văn K, sinh năm 1973 tại Hải Phòng; thường trú: Thôn Đ1, xã Đ, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 07/10; con ông Vũ Văn C (đã chết) và bà Bùi Thị H, s inh năm 1938; có vợ là Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1975; có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/9/2017 đến ngày 15/9/2017 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng cấm đi khỏi nơi cư trú: Có mặt.

NHẬN THẤY

Các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy Quyết đ ịnh truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Sáng ngày 13/9/2017 Nguyễn Văn C, Hoàng Văn T, Vũ Văn C1 và Vũ Văn K đến nhà anh Hoàng Văn H thắp hương chia buồn và ngồ i chơi uống nước. Khi anh H đi sang nhà bà N là hàng xóm để truyền dịch, C đề xuất với C1, T, K đánh bạc dưới hình thức đánh lốc được thua bằng tiền. C lấy 01 bộ bài tú lơ khơ có sẵn ở nhà anh H để mọi người đánh bạc. Quy ước tỷ lệ được thua là 10.000 đồng trên 01 quân bài, “cháy” 150.000 đồng, “lốc thường” 200.000 đồng, “lốc rồng” 400.000 đồng, bị bắt lốc 800.000 đồng. Trong khi đánh bạc không ai phải nộp tiền hồ, không tổ chức người canh gác hay cầm đồ tài sản. Đến 11 giờ cùng ngày, Công an huyện Kiến Thụy bắt quả tang các đối tượng đang đánh bạc và thu giữ vật chứng.

Tổng số tiền cả bọn sử dụng vào việc đánh bạc thu giữ tại chiếu bạc là 12.060.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: Số tiền 12.060.000 đồng, 01 bộ bài tú lơ khơ. Thu giữ của K 01 xe mô tô biển kiểm soát 16P2 – 4027; của C1 01 xe mô tô biển kiểm soát 15F1 – 220.94 và 01 điện thoại d i động nhãn hiệu Nokia đen trắng; của C 01 điện thoại d i động nhãn hiệu Nokia màu đen. Cơ quan điều tra đã xác minh và trả lại 01 xe mô tô biển kiểm soát 16P2 – 4027, 01 xe mô tô biển kiểm soát 15F1 – 220.94, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia đen trắng và 01 điện thoại d i động nhãn hiệu Nokia màu đen cho các chủ sở hữu. Còn lại số tiền 12.060.000 đồng và 01 bộ bài tú lơ khơ chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện K để xử lý theo vụ án.

Tại Quyết đ ịnh truy tố theo thủ tục rút gọn số 02/QĐ-VKS ngày 30/9/2017 của Viện kiểm sát huyện K đã truy tố các bị cáo: Nguyễn Văn C, Hoàng Văn T, Vũ Văn C, Vũ Văn K đều về tộ i “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự

Tại phiên toà, các bị cáo đã khai nhận tội:

Bị cáo C khai: Khoảng 10 giờ ngày 13/9/2017 tại nhà anh H, C đề xuất với C1, T, K đánh bạc bằng hình thức đánh lốc được thua bằng tiền. C lấy 01 bộ bài tú lơ khơ có sẵn tại nhà anh H để mọi người đánh bạc. Trong khi đánh bạc không ai phải nộp tiền hồ, không cử người canh gác hay cầm đồ tài sản. C dùng 5.400.000 đồng để đánh bạc, thắng bạc 630.000 đồng. Đến 11 giờ cùng ngày thì b ị bắt giữ cùng vật chứng.

Các bị cáo T, C1, K khai thống nhất như lời khai của C. T dùng 4.160.000 đồng để đánh bạc, bị thua 2.820.000 đồng. C1 dùng 2.000.000 đồng để đánh bạc, bị thua 940.000 đồng. K dùng 500.000 đồng để đánh bạc, thắng bạc 3.130.000 đồng. Đến 11 giờ cùng ngày thì bị bắt giữ cùng vật chứng.

Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của các bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K trình bày lời luận tộ i giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo: Nguyễn Văn C, Hoàng Văn T, Vũ Văn C1, Vũ Văn K đồng phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Đ iều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53; Điều 31 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt:

+ Nguyễn Văn C mức án từ 18 tháng đến 24 tháng cải tạo không giam giữ.

+ Hoàng Văn T mức án từ 15 tháng đến 18 tháng cải tạo không giam giữ.

Trừ cho mỗi bị cáo 02 ngày b ị tạm giữ; khấu trừ thu nhập của mỗi bị cáo từ 5% đến 10% để sung công quỹ Nhà nước.

Áp dụng khoản 1 Đ iều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53; Điều 30 Bộ luật Hình sự:

Phạt tiền:

+ Vũ Văn C1 từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.

+ Vũ Văn K từ 7.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Đ iều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu số tiền 12.060.000 đồng của các bị cáo dùng vào đánh bạc để sung công quỹ Nhà nước. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ có 52 quân bài.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ vật chứng, biên bản hiện trường, lời khai người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 13/9/2017 Nguyễn Văn C, Hoàng Văn T, Vũ Văn C1, Vũ Văn K có hành vi đánh bạc bằng hình thức đánh lốc được thua bằng tiền b ị bắt quả tang, thu giữ số tiền 12.060.000 đồng. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã thỏa mãn cấu thành tộ i “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây dư luận xấu trong nhân dân; là điều kiện nguy ên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Cần áp dụng hình phạt phù hợp đối với các bị cáo đồng thời để phòng ngừa chung.

Đây là vụ án có đồng phạm nên cần phân hóa vai trò của các bị cáo để có cơ sở cho việc cá thể hóa trách nhiệm hình sự. Trong vụ án này, bị cáo C là người khởi xướng, dùng số tiền đánh bạc nhiều hơn, nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn các bị cáo khác. Các bị cáo T, C1, K đều tham gia tích cực trong việc đánh bạc. Cần xử lý phù hợp đối với các bị cáo.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Bị cáo C có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng Ba. Bị cáo T có chú ruột là liệt sỹ. Gia đình các bị cáo đều có đơn xin bảo lãnh được chính quyền địa phương xác nhận. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại đ iểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt.

Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu số tiền 12.060.000đ của các bị cáo dùng vào đánh bạc để sung công quỹ Nhà nước. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ.

Tại phiên tòa, các bị cáo C, T mỗi bị cáo khai nhận có thu nhập kinh tế ổn định hàng tháng là 3.000.000đ (ba triệu đồng), cần khấu trừ 5% thu nhập của mỗi bị cáo để sung công quỹ Nhà nước.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo bị đề nghị khấu trừ thu nhập và hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo khoản 3 Điều 248 Bộ luật Hình sự.

Trong vụ án này, khi các bị cáo đánh bạc ở nhà anh H thì anh H không có nhà. Anh H không biết các bị cáo đánh bạc ở nhà mình nên không bị xử lý là phù hợp.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn C, Hoàng Văn T, Vũ Văn C1, Vũ Văn K đồng phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Đ iều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53; Điều 31 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt:

+ Nguyễn Văn C 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Trừ cho bị cáo 02 ngày bị tạm giữ (từ ngày 13/9/2017 đến ngày 15/9/2017) bằng 06 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 17 tháng 24 ngày cải tạo không giam giữ.

+ Hoàng Văn T 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Trừ cho bị cáo 02 ngày bị tạm giữ (từ ngày 13/9/2017 đến ngày 15/9/2017) bằng 06 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 14 tháng 24 ngày cải tạo không giam giữ.

Thời gian cải tạo không giam giữ của các bị cáo C, T tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K được giao giám sát giáo dục nhận được Quyết định thi hành án và bản sao Bản án.

Giao các bị cáo C, T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện K giám sát và giáo dục.

Áp dụng khoản 1 Đ iều 248; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 53; Điều 30 Bộ luật Hình sự: Phạt tiền: + Vũ Văn C1 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng)

+ Vũ Văn K 7.000.000đ (bẩy triệu đồng)

Áp dụng khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Đ iều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu số tiền 12.060.000đ (mười hai triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng) của các bị cáo dùng vào đánh bạc để sung công quỹ Nhà nước (theo biên lai thu tiền số AA.0005460 ngày 02/10/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K)

+ Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tú lơ khơ có 52 quân bài (theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/10/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện K)

Áp dụng khoản 3 Điều 31 Bộ luật Hình sự: Các b ị cáo C, T mỗi b ị cáo bị khấu trừ thu nhập 5% (C = 2.700.000 đồng, T = 2.250.000 đồng) để sung công quỹ Nhà nước.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong khoản phạt tiền, khấu trừ thu nhập thì hàng tháng các bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Đ iều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

Các bị cáo C, T, C1, K: Mỗi b ị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


111
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 26/2017/HSST ngày 10/10/2017 về tội đánh bạc

    Số hiệu:26/2017/HSST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Kiến Thuỵ - Hải Phòng
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:10/10/2017
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Án lệ được căn cứ
           
          Bản án/Quyết định phúc thẩm
            Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về