Bản án 252/2018/HS-ST ngày 23/07/2018 về tội bắt, giữ người trái pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 252/2018/HS-ST NGÀY 23/07/2018 VỀ TỘI BẮT, GIỮ NGƯỜI TRÁI PHÁP LUẬT

Ngày 23 tháng 7 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 344/2018/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 2936/2018/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C; giới tính: nam; sinh năm: 1994 tại: Quảng Ngãi; cư trú: Thôn LNN, xã ĐT, huyện MĐ, tỉnh Quảng Ngãi; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: không; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; con ông NVC và bà NTTB; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không có; bị bắt (truy nã), tạm giam từ ngày 14/3/2018 (có mặt).

Những người tham gia tố tụng: Bị hại:

Ông Thái Huỳnh Q, sinh năm 1979

Cư trú: 375 T, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 10/2016, Thái Huỳnh Q có cá độ bóng đá với Võ Thiện T trên 01 trang mạng bóng đá tbet: KV 190601005 và tbet: TV 190601001 với số tiền trên mạng là 20.000 USD tương đương số tiền 500.000.000 đồng. Trong thờigian khoảng 01 tuần, thông qua 02 trang cá độ bóng đá trên, Q cá độ bóng đá nhiều trận khác nhau và đã thua 578.000.000 đồng nên mượn Võ Thiện T số tiền 300.000.000 đồng. Tổng cộng, Thái Huỳnh  Q nợ Võ Thiện T số tiền 878.000.000 đồng (gồm tiền thua cá độ bóng đá 578.000.000 đồng và tiền mượn Võ Thiện T 300.000.000 đồng). Q đã trả cho T được 90.000.000 đồng và 2000 USD tương đương với số tiền 134.000.000 đồng. Còn lại 744.000.000 đồng, Q hứa sẽ trả góp mỗi tháng 30.000.000 đồng, nhưng sau đó Q lẩn tránh, không thực hiện trả nợ.

Khoảng 22 giờ ngày 23/12/2016, phát hiện Q đang ở nhà hàng 7 KQ, địa chỉ số 12, đường H, Phường M, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh, T rủ Trịnh Duy L, Phạm Tấn C1 và Huỳnh Minh D đến quán 7 KQ để bắt, giữ Thái Huỳnh Q. Trịnh Duy L rủ Đào Văn T1, Nguyễn Hoàng H, Nguyễn Duy P, Nguyễn Văn C; Phạm Tấn C1 rủ Hồ Văn Hoàng T2, Đoàn Tất L1 cùng đến quán 7 KQ để bắt, giữ Q, thì tất cả đồng ý. Sau đó T điều khiển xe ô tô biển số 51C – 862.99 chở C1, riêng L1, T2, L, T1, H, C, D điều khiển xe gắn máy và P đi xe taxi cùng đến quán 7 KQ. Khi thấy Q đi bộ từ trong quán ra ngoài cổng, T cùng L, T2, C1, H, T1, D, P, L1, C đến áp sát, kẹp nách áp giải đưa Q lên xe ô tô biển số 51C – 862.99 và chạy về hướng ngã tư A, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. Trên đường đi H, T2 ngồi áp sát hai bên Q. Lúc này, T nói H và T2 lấy trong người của Q 01 Passport mang tên Thái Huỳnh Q, riêng T1, L, C, P và D điều khiển xe gắn máy chạy phía sau xe ô tô biển số 51C – 862.99 để cảnh giới và áp giải Q về hướng khu vực Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến khu đất trống cạnh nhà số 1/8 tổ B, đường S Quốc lộ H, khu phố N, phường Đ, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh thì T dừng xe lại.

Tại đây, T, L, T1, H và T2 dùng tay đánh vào đầu, mặt Q. T buộc Q gọi điện thoại về nhà mượn số tiền 200.000.000 đồng để đưa cho T đồng thời buộc Q viết giấy tay có nội dung Q mượn T số tiền 800.000.000 đồng và ghi lùi ngày mượn tiền là ngày 24/8/2016. Do sợ bị đánh, Q gọi điện thoại cho bà Đặng Thị R (mẹ vợ) hỏi mượn số tiền 200.000.000 đồng để trả cho T. Sau đó, T điều khiển xe ô tô chở Q về quán 123 tại nhà số 375 T, phường T, quận TP, thành phố Hồ Chí Minh (nơi bà Đặng Thị R làm thuê) để lấy tiền, nhưng bà Đặng Thị R không có tiền. Thấy T tiếp tục bắt giữ Q đưa ra xe ô tô, bà Đặng Thị R năn nỉ và hẹn chiều ngày 24/12/2016 sẽ đưa cho T số tiền 100.000.000 đồng.

Đến 14 giờ ngày 24/12/2016, theo sự chỉ đạo của T, L và T1 đến quán 123 gặp bà Đặng Thị R để lấy số tiền 100.000.000 đồng, nhưng bà Đặng Thị R chỉ có số tiền 20.000.000 đồng nên sau khi lấy tiền L và T1 tiếp tục đe dọa nếu không trả đủ tiền sẽ đến đập phá quán 123, bắt bà Đặng Thị R, Thái Huỳnh Q cùng vợ con sau đó bỏ về. Do sợ bị đập phá quán và sợ bị bắt giữ nên bà Đặng Thị R hẹn đến ngày 13/01/2017 sẽ đưa tiền cho L và T1 tại quán 123. Đến 19 giờ ngày 13/01/2017, T1 điều khiển xe mô tô hiệu Airblade biển số 54H2 – 6192 chở L đến quán 123 để lấy của bà Đặng Thị Rsố tiền 50.000.000 đồng và T1 có viết một giấy tay có nhận của bà Đặng Thị R 02 lần tổng cộng số tiền 70.000.000 đồng thì bị Công an phường Tây Thạnh, quận Tân Phú,  Thành Phố Hồ Chí Minh bắt quả tang.

Ngày 25/12/2016, bà Đặng Thị R và Thái Huỳnh Q làm đơn tố cáo Võ Thiện T và đồng phạm có hành vi “Bắt, giữ người trái pháp luật” và “Cưỡng đoạt tài sản”.

Kết quả giám định số 331 ngày 14/02/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: “Chữ viết nội dung, chữ ký, chữ viết họ tên Đào Văn T1 trên tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết của Đào Văn T1 trên các tài liệu dùng làm mẫu so sánh do cùng một người viết ra”.

Cơ quan điều tra có thu giữ của Võ Thiện T 01 tờ giấy viết tay mượn số tiền 800.000.000 đồng ghi ngày 24/8/2016 có chữ viết, chữ ký của Thái Huỳnh Q; Kết quả giám định số 330 ngày 16/02/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: “Chữ viết nội dung, chữ ký, chữ viết họ tên Thái Huỳnh Q trên tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết của Thái Huỳnh Q trên các tài liệu dùng làm mẫu so sánh do cùng một người viết ra”.

Tại công văn số 193 ngày 12/6/2017 của Cục C50 – Bộ Công an trả lời như sau: trang tbet.ro đăng tải thông tin liên quan đến cá cược thể thao trực tuyến trên mạng Internet. Tên miền tbet.ro do công ty T đăng ký và hệ thống máy chủ đặt tại Romania. Do các tài khoản tbet: KV 190601005 và tebet: TV 190601001 chưa xác định đường dẫn website cá cược va mật khẩu đăng nhập tài khoản nên chưa xác định được thông tin chủ tài khoản của các tài khoản tbet: KV 190601005 và tebet: TV 190601001.

Ngày 23/4/2018, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử Võ Thiện T, Trịnh Duy L, Đào Văn T1, Phạm Tấn C1, Nguyễn Hoàng H, Hồ Văn Hoàng T2 và Huỳnh Minh D về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo Bản án số 125/2018/HS-ST.

Tại bản Cáo trạng số 237/CT-VKS-P2 ngày 07/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo điểm a khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2009.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa nêu quan điểm luận tội:

- Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản áp dụng như nội dung bản cáo trạng.

- Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đề nghị xử phạt bị cáo từ 1 năm 6 tháng đến 02 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Viện kiểm sát, điều tra viên và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có có ý kiến hoặc khiếu nại, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ khác như bản kết luận giám định chữ ký, biên bản thu giữ vật chứng, biên bản ghi lời khai người làm chứng và các biên bản hoạt động điều tra khác….có đủ cơ sở xác định khoảng 22 giờ ngày 23/12/2016 Nguyễn Văn C đã cùng Võ Thiện T, Trịnh Duy L, Đào Văn T1, Phạm Tấn C1, Nguyễn Hoàng H, Hồ Văn Hoàng T2, Huỳnh Minh D, Nguyễn Duy P thực hiện hành bắt giữ Thái Huỳnh Q lên xe ô tô biển số 51C-862.99 do T điều khiển chở và áp giải từ quán 7 KQ, địa chỉ 12 đường số S, Phường M, Quận S đến bãi đất trống phường Đ, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh nhằm tạo sức ép buộc Thái Huỳnh Q trả số tiền đã nợ T trước đó tổng cộng 744.000.000 đồng. Khi Q không có tiền, C đi mua tập viết để T sử dụng buộc Q ghi giấy nợ cho Võ Thiện T số tiền 800.000.000 đồng.

Với các tình tiết đã được chứng minh tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Văn C phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 như Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tội phạm do bị cáo gây ra là nghiêm trọng, không những xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể của người khác mà còn gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo cùng các đối tượng Võ Thiện T, Trịnh Duy L, Đào Văn T1, Phạm Tấn C1, Nguyễn Hoàng H, Hồ Văn Hoàng T2, Huỳnh Minh D, Nguyễn Duy P đã bàn bạc, cấu kết trong việc bắt giữ, có sự phân công vai trò cảnh giới, giúp sức, hỗ trợ tinh thần trong việc bắt giữ người bị hại để nhằm mục đích buộc người bị hại trả nợ. Như vậy, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội “có tổ chức” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 do đó cần có mức hình phạt đủ nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo.

Tuy nhiên, khi lượng hình Hội đồng xét xử cân nhắc bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức có hạn chế khi không tham gia đánh bị hại nên giảm cho bị cáo một mức hình phạt.

[3] Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, ông Thái Huỳnh Q không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.

- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 123 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Nguyễn Văn C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/3/2018.

Bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết bản án.


69
Bản án/Quyết định được xét lại
 
Văn bản được dẫn chiếu
 
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 252/2018/HS-ST ngày 23/07/2018 về tội bắt, giữ người trái pháp luật

Số hiệu:252/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 23/07/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về