Bản án 25/2020/HSST ngày 21/09/2020 về tội cố ý gây thương tích

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 25/2020/HSST NGÀY 21/09/2020 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Trong ngày 21 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lY số 28/2020/TLST- HS ngày 08 tháng 9 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:

1. Phan Ý N, sinh ngày 27/8/1991; Nơi cư trú: Khu Phố N, Phường 2H, thị xã K, tỉnh Long An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Nhân viên điện lực; Con ông Phan Văn T, sinh năm 1950 và bà LY Thị Ngọc M, sinh năm 1956; Anh, chị, em ruột có 04 người, nhỏ nhất sinh năm 1991, lớn nhất sinh năm 1977; Vợ: Võ Thị Thu T, sinh năm 1993; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại điều tra nay có mặt tại phiên tòa.

2. Phan Như Y, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Khu Phố N, Phường 2H, thị xã K, tỉnh Long An; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 07/12; nghề nghiệp: Công nhân; Con ông Phan Văn T, sinh năm 1950 và bà LY Thị Ngọc M, sinh năm 1956; Anh, chị, em ruột có 04 người, nhỏ nhất sinh năm 1991, lớn nhất sinh năm 1977; Vợ: Nguyễn Thị Mộng T, sinh năm 1987; Con có 02 người, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại điều tra nay có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

Ông Đỗ Huy T, sinh năm 1990; (có mặt) Địa chỉ: Khu phố B, Phường M, thị xã K, tỉnh Long An.

- Người làm chứng:

Bà Nguyễn Thị Mộng T, sinh năm 1987; (vắng mặt) Địa chỉ: Khu Phố N, Phường 2H, thị xã K, tỉnh Long An.

Ông Trần Ngọc S, sinh năm 1989; (vắng mặt) Địa chỉ: Ấp G xã B, thị xã K, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khong 17 giờ 00 ngày 25/02/2020 Phan Ý N, sinh ngày 27/8/1991, hộ khẩu thường trú: Khu Phố N, Phường 2H, thị xã K, tỉnh Long An đang ở nhà được tin chị Nguyễn Thị Mộng T (chị dâu của N) đang cự cải với Đỗ Huy T, sinh năm: 1990 ngụ Khu phố B, Phường M, thị xã K và Trần Ngọc S, sinh năm:

1989, ngụ Ấp G xã B, huyện M tại lộ bê tông thuộc Khu Phố N, Phường 2H, thị xã K, nghe vậy N chạy đến thì giữa N và T có cự cải, xô xát, Nhân nhặt khúc cây vuông ven đường đập gãy làm đôi lấy một khúc, lúc này T nhặt khúc còn lại cả hai đánh nhau, N bị rớt cây nên nhàu vô ấu đả với T, T thấy vậy có nhờ người đi đường kêu chồng là Phan Như Y (chồng của T) đến để can ngăn, khi Y chạy xe môtô đến do chạy nhanh thắng gấp thì xe vượt qua chổ N và T bị ngã xe, S chạy lại định đỡ dậy thì Y đánh S. Khi N và T đánh nhau Nhân giật khúc cây của T đang cầm làm T ngã xuống cặp lộ, N đánh vào chân trái của T, tiếp theo Phan Như Y chạy đến giật khúc cây của Nhân đang cầm đánh tiếp vào chân của T 2 cái. Khi đánh xong Y và N bỏ về nhà, Đỗ Huy T được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Đồng Tháp Mười và chuyển đến bệnh viện Đa khoa Long An để điều trị.

Tang vật đã thu giữ gồm: 01 (một) khúc cây dài 45 cm, kích thướt 4cm x 6cm đầu cây nhọn màu đỏ; 01 (một) khúc cây dài 42 cm, kích thượt 4cm x 2,5cm cây bị tét đôi có màu vàng nhạt.

Tại giấy chứng nhận thương tích số: 93/CN/2020 ngày 04/5/2020 của Bệnh viện đa khoa Long An chứng nhận tình trạng thương tích của Đỗ Huy T như sau: Gãy kín 02 xương cẳng chân (T) đã kết hợp xương.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 87/TgT.20-PY ngày 18/5/2020 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Long An, kết luận: 1. Dấu hiệu chính qua giám định: Chân trái có 2 sẹo phẫu thuật: Gối có sẹo kích thước 5cm x 0,3 cm, lành; vùng cẳng chân có sẹo kích thước 16 cm x 0,3 cm, lành. X.quang: Gãy 1/3 giữa xương chày trái; gãy 1/3 trên xương mác trái. 2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Đỗ Huy T là 19% (mười chín phần trăm).

Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSKT ngày 07/9/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An đã truy tố các bị cáo: Phan Ý N và Phan Như Y về tội “cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm đ, Khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường giữ nguyên cáo trạng đã truy tố, đề nghị: Kết luận hành vi của các bị cáo Phan Ý N và Phan Như Y là phạm tội “cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm đ, Khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về hình phạt đối với bị cáo Phan Ý N, đề nghị áp dụng Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 và các Điểm b, s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51, Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Phan Ý N từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và thời gian thử thách là từ 04 năm đến 05 năm.

Về hình phạt đối với bị cáo Phan Như Y, đề nghị áp dụng Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 và các Điểm b, s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51, Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Phan Như Y từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và thời gian thử thách là từ 04 năm đến 05 năm.

Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Phan Ý N, Phan Như Y đã thỏa thuận bồi thường các khoản điều trị, tổn thất tinh thần cho Đỗ Huy T là 70.000.000 đồng xong. Hiện bị hại Đỗ Huy T đã làm đơn xin bãi nại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Đi với Đỗ Huy T đánh nhau với Nhân chỉ xây xác nhẹ không gây thương tích, Nhân cũng không yêu cầu nên Công an thị xã Kiến Tường Quyết định xử phạt hành chính đối với T.

Bị cáo Nhân và Y nói lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn, hối cải và xin xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị hại, cùng các tài liệu, chứng cứ khác của vụ án nên có cơ sở xác định: Khoảng 17 giờ ngày 25/02/2020 tại lộ bê tông thuộc Khu Phố N, Phường 2H, thị xã K, tỉnh Long An Phan Ý N bên vực chị dâu là Nguyễn Thị Mộng T đang cự cải với Đỗ Huy T, dẫn đến Nhân xô xát, đánh nhau với T, trong lúc đánh nhau Nhân đã giật khúc dài 45cm, kích thướt 4 x 6cm đầu nhọn màu đỏ của T đang cầm đánh vào chân trái của T, tiếp sau đó Phan Như Y chạy tới giật khúc cây trên tay Nhân đang cầm đánh tiếp vào chân trái của T làm T gãy chân với tỷ lệ thương tích là 19%. Nhân và Y dùng khúc cây gỗ rắn chắc là “hung khí nguy hiểm” đánh gây thương tích cho T, mặc dù giữa Nhân, Y và T không có mâu thuẫn gì trước, chỉ vì Nhân, Y cho rằng T gây sự với chị T và trong lúc xô xát nhau thì bị hại T dùng khúc cây đánh nhau với Nhân, Nhân và Y dùng khúc cây đánh vào chân gây thương tích cho T.

[2] Trong vụ án này tuy có hai người cùng tham gia thực hiện nhưng giữa Nhân và Y không bàn bạc trước, không phân công vai trò cụ thể từng người, khi Y hay tin Nhân đang đánh nhau với T thì Y chạy xe đến cùng tham gia đánh T gây thương tích nên phải chịu trách nhiệm chung về thương tích gây ra, nhưng là đồng phạm giản đơn, không xem xét tính tổ chức. Xét về vai trò đồng phạm thì cả hai là người thực hành.

[3] Như vậy, hành vi của các bị cáo Phan Ý N và Phan Như Y đã đủ yếu tố cấu thành tội “cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm đ, Khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An đã truy tố các bị cáo về tội danh, điều, khoản nêu trên là có căn cứ.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người khác mà pháp luật hình sự nghiêm cấm, bản thân các bị cáo là người đã trưởng thành và nhận thức rỏ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên cần phải áp dụng một hình phạt tù có thời hạn mới tương xứng với hành vi của các bị cáo và có đủ tác dụng giáo dục đồng thời mang tính phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Tuy nghiên, khi cân nhắc và lượng hình, Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Phan Ý N như sau: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại Điểm b, Điểm s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự như bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo; Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Đối với bị cáo Phan Như Y; Về tình tiết tăng nặng, bị cáo không có tình tiết tăng nặng; Về tình tiết giảm nhẹ bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại Điểm b, Điểm s, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự như bị hại có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo; Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Do đó, đề nghị của Viện kiểm sát về việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn nhưng cho hưởng án treo đối với các bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.

[6] Về vật chứng: 01 (một) khúc cây dài 45 cm, kích thướt 4cm x 6cm đầu cây nhọn màu đỏ; 01 (một) khúc cây dài 42 cm, kích thượt 4cm x 2,5cm cây bị tét đôi có màu vàng nhạt không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Gia đình Phan Ý N, Phan Như Y đã thỏa thuận bồi thường các khoản điều trị, tổn thất tinh thần cho Đỗ Huy T là 70.000.000 đồng xong. Hiện bị hại Đỗ Huy T đã làm đơn xin bãi nại và không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[8] Đối với Đỗ Huy T đánh nhau với Nhân chỉ xây xác nhẹ không gây thương tích, Nhân cũng không yêu cầu nên Công an thị xã Kiến Tường Quyết định xử phạt hành chính đối với T là phù hợp.

[9] Về án phí: Cần buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật.

[10] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Căn cứ theo hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều tuân thủ đúng quy định Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điểm đ, Khoản 2, Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tuyên bố: Bị cáo Phan Ý N và bị cáo Phan Như Y phạm tội “cố ý gây thương tích”;

Căn cứ vào Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 và các Điểm b, s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Phan Ý N 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo; Thời gian thử thách đối với bị cáo là 04 (bốn) năm kề từ ngày tuyên án; Giao bị cáo về UBND Phường 2, thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách;

Căn cứ vào Điều 38, Điều 50, Điều 58, Điều 65 và các Điểm b, s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Phan Như Y 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo; Thời gian thử thách đối với bị cáo là 04 (bốn) năm kề từ ngày tuyên án; Giao bị cáo về UBND Phường 2, thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách;

Trong trường hợp các bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố Y vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Buộc Phan Ý N và Phan Như Y, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm sung công quỹ nhà nước.

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án là 05 năm theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.


14
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về