Bản án 25/2018/HS-ST ngày 29/05/2018 về tội đánh bạc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK GLONG, TỈNH ĐẮK NÔNG

BẢN ÁN 25/2018/HS-ST NGÀY 29/05/2018 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 29 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 19/2018/TLST-HS ngày 14-5-2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2018/QĐXXST-HS ngày 16-5-2018 đối với các bị cáo:

1. Lê Văn T, tên gọi khác: T cá, sinh năm 1975 tại tỉnh Bình Ðịnh; nơi cư trú: Thôn 2, xã Q, huyện Ð, tỉnh Ðắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn A và bà Ðặng Thị S; có vợ là Lê Thị Thu Y và 04 con; tiền án: 01 tiền án, cụ thể: ngày 13-02-2008 phạm tội Ðánh bạc, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2008/HSST ngày 15-5-2008, Tòa án nhân dân huyện Ðắk Glong, tỉnh Ðắk Nông tuyên phạt 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, đã được xóa án tích. Ngày 24-5- 2015 tiếp tục phạm tội Ðánh bạc, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2016/HSST ngày 09-3-2016, Tòa án nhân dân huyện Ðắk Glong, tỉnh Ðắk Nông tuyên phạt hình phạt chính là phạt tiền 15.000.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt chính ngày 22-9-2017, chưa được xóa án tích; bị cáo tại ngoại, có mặt.

2. Lại Văn H, sinh năm 1987 tại tỉnh Ðồng Nai; nơi cư trú: Thôn 8, xã N, huyện Ð, tỉnh Ðắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lại Văn C và bà Nguyễn Thị K; có vợ là Trần Thị M và 02 con; tiền án: 01 tiền án, cụ thể: ngày 01-02-2005 phạm tội Trộm cắp tài sản, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2005/HSST ngày 06-5-2005, Tòa án nhân dân huyện Ðắk Song, tỉnh Ðắk Nông phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, đã được xóa án tích. Ngày 22-01-2015 phạm tội Ðánh bạc, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2016/HSST ngày 05-7-2016, Tòa án nhân dân tỉnh Ðắk Nông tuyên phạt 03 tháng 02 ngày tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05-7-2016, chưa được xóa án tích; bị bắt tạm giam ngày 22-11-2017 đến ngày 15-12-2017 tại ngoại, có mặt.

3. Hoàng Quốc H, sinh năm 1974 tại tỉnh Cần Thơ; nơi đăng ký HKTT: Thôn 3, xã Q, huyện Ð, tỉnh Ðắk Nông; chỗ ở: Thôn 11, xã Q, huyện Ð, tỉnh Ðắk Nông; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T và bà Phạm Thị S (đều đã chết); có vợ là Ðỗ Thị Th và 02 con; bị bắt tạm giữ ngày 19-10-2017 sau đó chuyển tạm giam, đến ngày 14-11-2017 tại ngoại, có mặt.

4. Phan Văn P, sinh năm 1962 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Tổ 2, phường N, thị xã G, tỉnh Ðắk Nông; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn K và bà Lê Thị H (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị L và 05 con; tiền án: 01 tiền án, cụ thể: tháng 9/2011 phạm tội Ðánh bạc, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 55/2012/HSST ngày 11-9-2012, Tòa án nhân dân tỉnh Ðắk Nông tuyên phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, đã được xóa án tích. Ngày 22-01-2015 tiếp tục phạm tội Ðánh bạc, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2016/HSST ngày 05-7-2016, Tòa án nhân dân tỉnh Ðắk Nông tuyên phạt 05 tháng 08 ngày tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 05-7-2016, chưa được xóa án tích; bị bắt tạm giữ ngày 25-10-2017 sau đó chuyển tạm giam, đến ngày 19-4-2018 tại ngoại, có mặt.

5. Lê Văn S, sinh năm 1978 tại tỉnh Ninh Thuận; nơi cư trú: Tổ 2, phường N, thị xã G, tỉnh Ðắk Nông; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H (chết) và bà Nguyễn Thị Kh; có vợ là Ngô Thị H (đã ly hôn) và 03 con; nhân thân: Ngày 21- 11-2004, phạm tội Cố ý gây thương tích, tại Bản án hình sự phúc thẩm số 143/HSPT ngày 01-8-2005, Tòa án nhân dân tỉnh Ðồng Nai tuyên phạt 02 năm tù, đã được xóa án tích; bị bắt tạm giữ ngày 19-10-2017 sau đó chuyển tạm giam, đến ngày 14-11- 2017 tại ngoại, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

+ Chị Lê Thị Thu Y; nơi cư trú: Thôn 2, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

+ Anh Hà Đình T; nơi cư trú: Thôn 2, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Văn T; nơi cư trú: Thôn 3, xã Đ, thị xã G, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

+ Anh Lại Văn M; nơi cư trú: Thôn 8, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Anh Nguyễn Quang L; nơi cư trú: Thôn 4, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

+ Anh Nguyễn Văn H, nơi cư trú: Thôn 1, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

+ Chị Đỗ Thị T; nơi cư trú: Thôn 3, xã Q, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

+ Anh Yên Văn M; nơi cư trú: Thôn 8, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

+ Anh Đặng Văn H; nơi cư trú: Thôn 3, xã N, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ ngày 18-10-2017, Phan Văn P rủ Lê Văn S và Lại Văn H đi huyện Đ để đá gà cá cược ăn tiền. S lái xe ô tô chở P và H. Khi đi Lê Văn S, Lại Văn H mang theo 01 con gà đá. Khoảng 13 giờ cùng ngày, Lê Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển kiểm soát: 88F2-5191 (chủ sở hữu xe là chị Lê Thị Thu Y) mang theo 01 con gà đá đến nhà rẫy của Hoàng Quốc H. Trước khi đi, Lê Văn T gọi điện nói Hoàng Quốc H chuẩn bị công cụ để đá gà ăn tiền thì H đồng ý. Khi Lê Văn T đến nơi thì Hoàng Quốc H đã kẻ sân và chuẩn bị sẵn công cụ gồm 01 cân đồng hồ loại 5kg, băng keo để đá gà. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Hoàng Quốc H, Lê Văn S, Lê Văn T và Lại Văn H thống nhất “đá xổ” (chủ gà cá cược với nhau), Phan Văn P làm trọng tài, cụ thể từng trận như sau:

Trận thứ nhất: Gà của Lê Văn T đá với gà của Lại Văn H (gà của người tên C, chưa xác định được nhân thân, lai lịch đưa cho H để đá), “đá xổ” số tiền 2.000.000 đồng (Lê Văn T và Lại Văn H mỗi người bỏ ra số tiền 2.000.000 đồng). Kết quả gà của Lê Văn T thắng nên T được số tiền 2.000.000 đồng của Lại Văn H. Lê Văn T trả cho Phan Văn P tiền công làm trọng tài 200.000 đồng. Lê Văn S cũng cá cược (bắt gà của T) với một người đứng xem (không xác định được nhân thân, lai lịch) và thắng được số tiền 100.000 đồng.

Trận thứ hai: Gà của Lê Văn T (mua của Hoàng Quốc H) đá với gà của Lại Văn H, “đá xổ” số tiền 2.000.000 đồng (Lê Văn T và Lại Văn H mỗi người bỏ ra số tiền 2.000.000 đồng). Kết quả gà của Lại Văn H thắng nên H được số tiền 2.000.000 đồng của Lê Văn T. Do không có tiền lẻ nên Lại Văn H chưa trả tiền trọng tài cho Phan Văn P.

Trận thứ ba: Gà của Lê Văn T (thuê của Hoàng Quốc H) đá với gà của Lê Văn S, “đá xổ” số tiền 2.000.000 đồng. Lê Văn T bỏ ra số tiền 1.500.000 đồng và Hoàng Quốc H bỏ ra số tiền 500.000 đồng, góp lại với nhau; còn Lê Văn S góp số tiền 500.000 đồng với một người thanh niên (chưa xác định được nhân thân, lai lịch). Kết quả gà của Lê Văn T thắng. Lúc này là khoảng 15 giờ cùng ngày, khi tất cả chuẩn bị chung tiền thì bị Công an huyện Ðắk Glong phát hiện; Hoàng Quốc H và Lê Văn S bị bắt quả tang còn Lê Văn T, Lại Văn H, Phan Văn P và những người khác bỏ chạy.

Vật chứng: Tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam 4.870.000 đồng (trong đó: Thu giữ trên người Lê Văn S số tiền 870.000 đồng là tiền dùng đánh bạc và thắng cược; thu giữ trên người Hoàng Quốc H số tiền 1.200.000 đồng là tiền đánh bạc; thu giữ trên sòng đá gá số tiền 1.500.000 đồng; Lê Văn T giao nộp số tiền 1.300.000 đồng); 01 cân đồng hồ nhãn hiệu Nhơn Hòa; 01 cặp cựa gà bằng sắt; 06 con gà đá, có tổng trọng lượng 16,8 kg; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 225 V20, màu đen thu giữ của Lại Văn H; 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại Innova, biển kiểm soát: 48A- 039.67 thu giữ của Lê Văn S; 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream, biển kiểm soát: 88F2- 5191 thu giữ của Lê Văn T. Ngày 13-01-2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ðắk Glong ra quyết định xử lý vật chứng số 01 trả lại xe mô tô biển kiểm soát: 88F2-5191 cho chị Lê Thị Thu Y. Ðối với 06 con gà đá, ngày 01-11-2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ðắk Glong ra quyết định xử lý vật chứng số 43 bằng hình thức tiêu hủy.

Tại Bản cáo trạng số 23/CTr-VKS ngày 11-5-2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999; áp dụng thêm khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với Lê Văn T, điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với Phan Văn P, xử phạt Lê Văn T, Lại Văn H từ 03 đến 06 tháng tù, Phan Văn P từ 5 tháng 25 ngày đến 6 tháng tù; áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với Hoàng Quốc H, xử phạt Lê Văn S, Hoàng Quốc H từ 03 đến 06 tháng tù. Về vật chứng: tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 4.870.000 đồng và 01 điện thoại di động; tịch thu, tiêu hủy 01 cân đồng hồ, 01 cặp cựa gà bằng sắt; chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số 01 ngày 13-01-2018 và Quyết định xử lý vật chứng số 43 ngày 01-11-2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát: 88F2-5191 cho chủ sở hữu là chị Lê Thị Thu Y và tiêu hủy 06 con gà đá. Trả lại xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại Innova, biển kiểm soát: 48A-039.67 cho Lê Văn S.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, các bị cáo ăn năn hối cải và xin hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đắk Glong, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Glong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa. Các chứng cứ buộc tội và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ pháp lý, qua đó xác định: Vào ngày 18-10-2017 tại nhà Hoàng Quốc H ở thôn 11, xã Q, huyện Đ, Lê Văn T, Lại Văn H, Hoàng Quốc H, Phan Văn P và Lê Văn S đã thực hiện hành vi đánh bạc, dưới hình thức đá gà cá cược ăn tiền. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 12.000.000 đồng; trong đó các bị cáo T, H, P có 01 tiền án về tội “Đánh bạc”, bị cáo S và H tham gia với vai trò giúp sức nên các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999, cụ thể: tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định:

“ 1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. ..."

[3] Xét tính chất, mức độ, hành vi và vai trò của các bị cáo trong vụ án, thấy rằng, các bị cáo phạm tội chỉ mang tính chất đồng phạm đơn giản, trong đó Lê Văn T, Lại Văn H là người thực hành, Lê Văn S, Hoàng Quốc H, Phan Văn P là người giúp sức. Tuy nhiên, T, H và P phạm tội trong trường hợp “Tái phạm” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999, bị cáo S có nhân thân xấu nên cần xử phạt với mức hình phạt cao hơn bị cáo H.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo sau khi phạm tội đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; bị cáo T ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999; bị cáo H có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999, bị cáo P là con liệt sĩ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, tuy vậy, các bị cáo T, H, P đều “Tái phạm” nên Hội đồng xét xử thấy cần cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới răn đe các bị cáo nói riêng và phòng ngừa chung trong xã hội; đối với hai bị cáo S và H tham gia với vai trò thứ yếu nên cần phạt tiền là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Cần phạt bổ sung các bị cáo Lê Văn T, Lại Văn H và Phan Văn P mỗi bị cáo 3.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước.

[6] Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 4.870.000 đồng và 01 điện thoại di động. Tịch thu, tiêu hủy 01 cân đồng hồ và 01 cặp cựa gà bằng sắt do không còn giá trị sử dụng. Chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số 01 ngày 13-01-2018 và Quyết định xử lý vật chứng số 43 ngày 01-11- 2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát: 88F2-5191 cho chủ sở hữu là chị Lê Thị Thu Y và tiêu hủy 06 con gà đá. Đối với xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại Innova, biển kiểm soát: 48A-039.67 của Lê Văn S, khi S chở các bị cáo đi đánh bạc thì đang thuộc sự quản lý của Công ty taxi Việt Đức và là tài sản chung của hai vợ chồng bị cáo nên cần trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.

[7] Đối với người tên C và người thanh niên góp tiền cùng với Lê Văn S, do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong đang tiếp tục điều tra để xử lý sau.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: các bị cáo Lê Văn T, Lại Văn H, Phan Văn P, Lê Văn S và Hoàng Quốc H phạm tội “Đánh bạc”.

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với các bị cáo Lê Văn T, Phan Văn P, Lại Văn H, áp dụng thêm khoản 2 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với Lê Văn T, điểm x khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với Phan Văn P, Xử phạt bị cáo Lê Văn T 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Xử phạt bị cáo Lại Văn H 03 tháng tù, được trừ thời gian tạm giam từ ngày 22- 11-2017 đến ngày 15-12-2017, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Xử phạt bị cáo Phan Văn P 05 tháng 25 ngày tù, được trừ thời gian tạm giam, tạm giữ từ ngày 25-10-2017 đến ngày 19-4-2018; bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù.

- Áp dụng khoản 3 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999, phạt bổ sung các bị cáo Lê Văn T, Lại Văn H và Phan Văn P mỗi bị cáo 3.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước, hình thức nộp phạt một lần.

Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46 ; Điều 30 Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với Lê Văn S và Hoàng Quốc H, áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự năm 1999 đối với bị cáo Hoàng Quốc H, Xử phạt bị cáo Hoàng Quốc H 6.000.000 đồng, bị cáo Lê Văn S 8.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước, hình thức nộp phạt một lần.

2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật Hình sự năm 1999; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, sung quỹ Nhà nước số tiền 4.870.000 đồng và 01 chiếc điện thoại di động; tịch thu tiêu hủy 01 cân đồng hồ và 01 cặp cựa gà bằng sắt. Chấp nhận Quyết định xử lý vật chứng số 01 ngày 13-01-2018 và Quyết định xử lý vật chứng số 43 ngày 01-11-2017 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Glong. Trả lại 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota, loại Innova, biển kiểm soát: 48A-039.67 cho bị cáo Lê Văn S. Đặc điểm vật chứng như biên bản bàn giao ngày 16-5-2018 của Cơ quan CSĐT và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ.

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Lê Văn T, Lại Văn H, Phan Văn P, Lê Văn S và Hoàng Quốc H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

153
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 25/2018/HS-ST ngày 29/05/2018 về tội đánh bạc

Số hiệu:25/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đắk Glong - Đăk Nông
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 29/05/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về