Bản án 25/2018/HNGĐ-ST ngày 25/09/2018 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BA ĐỒN, TỈNH QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 25/2018/HNGĐ-ST NGÀY 25/09/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 25 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 106/2018/TLST- HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2018, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1986

Trú tại: Thôn V, xã L, thị xã B, tỉnh Quảng Bình

Chỗ ở hiện nay: 170/3B, xã H, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1982

Trú tại: Thôn V, xã L, thị xã B, tỉnh Quảng Bình (Chị N và anh H vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 20/7/2018, bản tự khai, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị và anh Nguyễn Xuân H có quá trình tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình (nay là UBND xã H, thị xã B, tỉnh Quảng Bình) vào ngày 05/10/2006. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được hai năm, đến năm 2008 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh H thường xuyên rượu chè, không quan tâm đến cuộc sống gia đình, vì vậy, vợ chồng sống ly thân từ năm 2008 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị làm đơn xin được ly hôn với anh Nguyễn Xuân H để ổn định cuộc sống sau này. Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung Nguyễn Anh Q, sinh ngày 12/6/2008, nếu vợ chồng ly hôn thì nguyện vọng của chị xin được nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng tiền nuôi con hàng tháng. Quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng.

Theo biên bản lấy lời khai ngày 06/9/2018, anh Nguyễn Xuân H trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị N có quá trình tìm hiểu và đi đến kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Q H, huyện Q, tỉnh Quảng Bình đúng như chị N trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì chị N bỏ đi Miền Nam làm ăn, vợ chồng không có mâu thuẫn gì, anh H cũng không biết lý do vì sao chị N lại bỏ nhà đi làm ăn xa. Vì vậy, vợ chồng sống ly thân từ đầu năm 2009 cho đến nay. Nay chị N làm đơn xin ly hôn thì anh H cũng nhất trí, vì vợ chồng sống ly thân đã lâu, hiện không còn tình cảm. Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung: Nguyễn Anh Q, sinh ngày 12/6/2008. Nếu ly hôn anh nhất trí giao con cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng, vì hiện nay con đang ở với chị N. Quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

-Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật, không có vấn đề gì vi phạm; nguyên đơn tuân thủ nghiêm chỉnh sự triệu tập của Tòa án, thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn mặc dù được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án.

-Về nội dung: Đề nghị căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Xuân H; căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình xử cho chị N ly hôn với anh H; giao cho chị N được quyền nuôi dưỡng con chung, anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập các bên đương sự có mặt tại Tòa án để tiến hành hòa giải nhưng anh H không có mặt. Do điều kiện công việc nên chị Nga đã có đơn xin xử vắng mặt. Tòa án đã triệu tập anh H đến UBND xã L để làm việc nhưng anh H cũng không có mặt, Tòa án đã phối hợp với cán bộ tư pháp xã L đến tại nhà của anh H để lấy lời khai và anh H đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, ngày 07/9/2018, Toà án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Chị Nguyễn Thị N có đơn yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Xuân H, hiện tại anh H có hộ khẩu thường trú tại xã L, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thị xã B.

- Về sự vắng mặt của nguyên đơn và bị đơn: Tại phiên toà vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị N và bị đơn anh Nguyễn Xuân H, song xét thấy do điều kiện, công việc nên chị N và anh H đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Xuân H.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh H có quá trình tìm hiểu và đi đến hôn nhân là hoàn toàn tự nguyện, được gia đình và chính quyền địa phương cho phép đăng ký kết hôn vào ngày 05/10/2006, tại Ủy ban nhân dân xã H, thị xã B, tỉnh Quảng Bình. Vì vậy, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian ngắn, theo chị N trình bày thì anh H thường xuyên rượu chè, không quan tâm đến cuộc sống gia đình nhưng anh H lại cho rằng vợ chồng không có mâu thuẫn gì mà chị N tự bỏ nhà đi Miền Nam làm ăn. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án thấy rằng, trong cuộc sống giữa chị N và anh H chưa tìm được tiếng nói chung, chị N và anh H cũng xác định tình cảm không còn nên đều nhất trí ly hôn. Xét thấy, vợ chồng sống ly thân đã lâu, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị N.

[3]. Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị N và anh H có 01 con chung là : Nguyễn Anh Q, sinh ngày 12/6/2008. Nếu vợ chồng ly hôn chị N có nguyện vọng xin được nuôi con nên anh H cũng nhất trí. Xét thấy, từ khi vợ chồng sống ly thân, cháu Quốc ở với chị N và hiện tại cháu Q đã có đơn trình bày nguyện vọng mong muốn được ở với mẹ. Vì vậy, xét nguyện vọng của chị N xin được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con là hoàn toàn chính đáng và phù hợp. Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao con cho chị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Anh H không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do chị N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

 [4]. Về quan hệ tài sản: Quá trình chung sống chị N và anh H không có tài sản chung, không nợ ai và cũng không ai nợ vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét

 [5]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải nộp tiền án phí ly hôn theo đúng quy định của pháp luật để sung vào công quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều147, khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57, các Điều 81, Điều82, Điều 83 Luật hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, và sử dụng án phí và lệ phí Toà án ngày 30/12/2016:

1. Xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị N và bị đơn anhNguyễn Xuân H

2. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anhNguyễn Xuân H

3. Về quan hệ con chung: Giao con Nguyễn Anh Q, sinh ngày 12/6/2008 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

4. Về tài sản chung: Không xem xét

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước nhưng được trừ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí chị N đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã B theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002259, ngày 27/7/2018.

Án xử sơ thẩm, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án của Toà án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

287
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 25/2018/HNGĐ-ST ngày 25/09/2018 về ly hôn

Số hiệu:25/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Ba Đồn - Quảng Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 25/09/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về