Bản án 24/2020/HNGĐ-ST ngày 29/05/2020 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH HẬU GIANG

BẢN ÁN 24/2020/HNGĐ-ST NGÀY 29/05/2020 VỀ XIN LY HÔN

Ngày 29 tháng 5 năm 2020 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 68/2020/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 04 năm 2020 về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2020/QĐXX-ST ngày 14 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Oanh E, sinh năm: 1998.

Địa chỉ: ấp Đông Lợi B, xã Đông Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. (có mặt).

-Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm: 1981.

Địa chỉ: ấp Phú Lợi A, xã Phú Kiết, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

Chổ ở hiện nay: ấp Đông Lợi B, xã Đông Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 11/02/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn Bùi Thị Oanh E trình bày:

Giữa nguyên đơn và bị đơn kết hôn năm 2016 có làm lễ cưới theo truyền thống và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã Đông Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 12 năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, do bị đơn không còn chung thủy với nguyên đơn nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, đời sống chung vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, sống ly thân từ tháng 12 năm 2019 đến nay. Nguyên đơn yêu cầu giải quyết được ly hôn với bị đơn.

Quá trình chung sống nguyên đơn và bị đơn có một con chung cháu Nguyễn Bùi Gia H, sinh ngày 21/5/2018, nguyên đơn yêu cầu nuôi con chung, yêu cầu bị đơn phải cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung, nợ chung, nợ cho vay: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn trình bày: Bị đơn với nguyên đơn kết hôn năm 2016, có làm lễ cưới theo truyền thống, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, con chung, quá trình chung sống không có tài sản chung, nợ chung, nợ cho vay, mâu thuẫn dẫn đến ly hôn bị đơn cũng không biết, do bị đơn đi làm nên nguyên đơn gửi đơn xin ly hôn, ly thân từ tháng 12 năm 2019. Bị đơn không đồng ý ly hôn với nguyên đơn mong muốn được đoàn tụ. Về con chung bị đơn đồng ý để nguyên đơn nuôi con chung, bị đơn đồng ý cấp dưỡng nuôi con chung là 745.000 đồng trên tháng. Về tài sản chung, nợ chung, nợ cho vay không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Việc chấp hành tố tụng của đương sự theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn. Về con chung đề nghị nhận sự tự nguyện thỏa thuận của đương sự giao con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng, về cấp dưỡng ghi nhận sự tự nguyện của bị đơn cấp dưỡng nuôi con chung là 745.000 đồng trên tháng cho đến khi cháu tròn 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung, nợ cho vay không có nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả việc hỏi, tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn Bùi Thị Oanh E khởi kiện về việc xin ly hôn với bị đơn Nguyễn Văn H và bị đơn hiện đang cư trú tại ấp Đông Lợi B, xã Đông Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình được quy định tại Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xác định đây là vụ án về việc xin ly hôn, và nuôi con yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đúng trình tự thủ tục, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Giữa nguyên đơn Bùi Thị Oanh E và bị đơn Nguyễn Văn H tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2016 có tổ chức lễ cưới theo truyền thống và có đến cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn theo quy định của luật Hôn nhân và gia đình, nên quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bị đơn không chung thủy với nguyên đơn bản thân bị đơn và nguyên đơn đã cho nhau cơ hội hàn gắn nhưng không thành, sống ly thân từ tháng 12 năm 2019 đến nay, vợ chồng tự ai nấy sống. Chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn là phù họp với quy định của pháp luật.

[3] Về con chung thời gian chung sống nguyên đơn và bị đơn có một con chung. Đương sự tự nguyện thỏa thuận giao con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng, bị đơn tự nguyện cấp dưỡng nuôi con chung là 745.000 đồng trên tháng đến khi cháu tròn 18 tuổi. Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận của đương sự.

[4] Về tài sản chung, nợ chung, nợ cho vay đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử chưa xem xét giải quyết.

[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, quyền kháng cáo các đương sự thực hiện theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Áp dụng: Điều 28, 35, 39,147, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Điều 56, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

- Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn Bùi Thị Oanh E và bị đơn Nguyễn Văn H được ly hôn.

1.2. Về con chung chị Bùi Thị Oanh E được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Bùi Gia H, giới tính: Nữ, sinh ngày 21/5/2018. Về cấp dưỡng anh Nguyễn Văn H cấp dưỡng là 745.000 đồng trên tháng cho đến khi cháu tròn 18 tuổi.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiến nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Vì lợi ích, của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.

1.3. Về tài sản chung, nợ chung, nợ cho vay chưa xem xét giải quyết.

2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Bùi Thị Oanh E phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) được khấu trừ 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai nộp tiền tạm ứng án phí số 0003915 ngày 28/4/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thành án phí, nguyên đơn không phải nộp thêm. Bị đơn tự nguyện nộp 150.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

3. Đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

4. Trong trường hợp Bản án, Quyết định của Tòa án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự - thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 24/2020/HNGĐ-ST ngày 29/05/2020 về xin ly hôn

Số hiệu:24/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Hậu Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:29/05/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về