Bản án 24/2020/HNGĐ-ST ngày 25/06/2020 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG

BẢN ÁN 24/2020/HNGĐ-ST NGÀY 25/06/2020 VỀ LY HÔN

Ngày 25 tháng 6 năm 2020 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 148/2020/TLST-HNGĐ ngày 01-6-2020 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị L, sinh năm 1966 (Có mặt)

2. Bị đơn: Ông Trương Văn H, sinh năm 1966 (Có mặt)

Địa chỉ: ấp L, xã Đ, huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 09/01/2020, biên bản hòa giải ngày 11/6/2020 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Trần Thị L trình bày:

Bà và ông Trương Văn H chung sống với nhau từ năm 1992 đến nay không đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống thật sự hạnh phúc đến năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên xảy ra cãi nhau và mâu thuẫn ngày càng nhiều nên không thể tiếp tục sống chung.

Về quan hệ con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng có 03 con 1 chung tên Trương Thị Chúc N, sinh năm 1993; Trương Thị Chúc S, sinh năm 1994 và Trương Hải Đ, sinh năm 1996.

Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng không tài sản chung.

Về quan hệ nợ chung: Vợ chồng không nợ chung tài sản gì đối với ai khác cũng không ai nợ vợ chồng.

Nay yêu cầu Tòa án giải quyết:

1. Về quan hệ hôn nhân: Xin ly hôn ông Trương Văn H:

2. Về quan hệ con chung: Hiện các con đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết:

3. Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng không tài sản chung, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về quan hệ nợ chung: Vợ chồng không nợ chung tài sản gì đối với ai khác cũng không ai nợ vợ chồng, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản hòa giải ngày 11/6/2020, văn bản ngày 16/3/2020 và trong quá trình xét xử, bị đơn ông Trương Văn H trình bày:

Về thời gian ông và bà Trần Thị L chung sống với nhau năm 1992 đến nay không đăng ký kết hôn, mâu thuẫn vợ chồng, thời gian ly thân; vợ chồng có 03 con chung, họ tên, ngày tháng năm của các con; về tài sản chung của vợ chồng; về nợ chung là đúng như ý kiến của bà L trình vày nêu trên ông không trình bày gì thêm.

Nay theo yêu cầu của bà L, ông có ý kiến như sau:

1. Về hôn nhân: Đồng ý ly hôn với bà Trần Thị L:

2. Về quan hệ nuôi con chung: Hiện các con đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết:

3. Về quan hệ tài sản chung: Vợ chồng không tài sản chung, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết:

4. Về quan hệ nợ chung: Vợ chồng không nợ chung tài sản gì đối với ai khác cũng không ai nợ vợ chồng, không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên tòa: Các đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến trình bày và yêu cầu như trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Tại phiên hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà L và bị đơn ông H thống nhất với nhau vợ chồng từ khi chung sống với nhau đến nay không đăng ký kết hôn, về con chung, về tài sản, về nợ và thời điểm hai bên phát sinh mâu thuẫn. Theo Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX khẳng định đây là sự thật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị L và ông Trương Văn H chung sống với nhau từ năm 1992, nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền (UBND xã). Như vậy là vi phạm quy định về đăng ký kết hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 1986. Đến khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (có hiệu lực ngày 01-01-2001), các cơ quan nhà nưỡ có thẩm quyền đã có nhiều văn bản quy định, hướng dẫn việc đăng ký kết hôn đối với những trường hợp như ông, bà trong thời gian hai năm (từ ngày 01-01=2001 đến ngày 01-01-2003) nhưng ông, bà vẫn không thực hiện. Cho đến khi có Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (có hiệu lực ngày 01-01-2015) và thực tế từ khi có đơn yêu cầu xin ly hôn của bà L và cho đến nay ông, bà vẫn không đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Do đó, nay bà L có yêu cầu ly hôn, thì theo quy định tại khoản 1 Điều 14, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Tòa án sẽ quyết định bằng bản án tuyên bố không công nhận hai người là vợ chồng.

[3] Về quan hệ nuôi con chung: Hai bên đương sự cùng nhau thống nhất xác định và tự thỏa thuận, vợ chồng có 03 con chung tên Trương Thị Chúc N, sinh năm 1993; Trương Thị Chúc S, sinh năm 1994 và Trương Hải Đ, sinh năm 1996. Hiện các con đã đủ tuổi trưởng thành, đủ 18 tuổi tự lao động sinh sống được, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[4] Về quan hệ tài sản chung và quan hệ nợ chung: Giữa nguyên đơn bà L và bị đơn ông H cùng thống nhất xác định, vợ chồng không tài sản chung, không nợ chung tài sản gì đối với ai khác cũng không ai nợ vợ chồng, không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[5] Về án phí: Nguyên đơn bà Trần Thị L có đơn yêu cầu xin ly hôn nên bà L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Áp dụng khoản 1 Điều 14, Điều 15, Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1 - Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Trần Thị L và ông Trương Văn H.

2 - Về quan hệ nuôi con chung: Các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

3 - Về quan hệ tài sản chung và về quan hệ nợ chung: Các đương sự không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

4 - Về án phí: Bà Trần Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn là 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0007848 ngày 27 tháng 5 năm 2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện An Minh; bà L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 25/6/2020).


2
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 24/2020/HNGĐ-ST ngày 25/06/2020 về ly hôn

Số hiệu:24/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện An Minh - Kiên Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/06/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về