Bản án 24/2019/HS-ST ngày 14/11/2019 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ, TỈNH HÀ TĨNH

BẢN ÁN 24/2019/HS-ST NGÀY 14/11/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH

Ngày 14 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2019/TLST-HS ngày 15/10/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2019/QĐXXST-HS ngày 01/11/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Mạnh C; sinh ngày 18/02/1996 tại thị trấn ĐT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh; nơi cư trú: Tổ dân phố 5, thị trấn ĐT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Hoàng Mạnh H, sinh năm 1966 và bà Nguyễn Thị Lan H, sinh năm 1965; vợ con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 25/5/2016 bị Công an huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt hành chính 2.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích, đã chấp hành xong quyết định; bị bắt tạm giam ngày 20/7/2019 đến ngày 23/8/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh đến nay; có mặt.

- Người bị hại:

1. Chị Đoàn Thị T; sinh năm 1991; nơi cư trú: Phường NK, thành phố NB, tỉnh Ninh Bình; có mặt.

2. Bà Nguyễn Thị Q; sinh năm 1956; nơi cư trú: Thôn ChL, xã TA, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Lan H; sinh năm 1965; nơi cư trú: Tổ dân phố 5, thị trấn ĐT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

2. Anh Đoàn Quốc A; sinh năm 1994; nơi cư trú: Tổ dân phố 4, thị trấn ĐT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Chị Trần Thị Ngọc Á; sinh năm 1995; nơi cư trú: Tổ dân phố 4, thị trấn ĐT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh; có mặt.

2. Chị Bùi Thị H; sinh năm 1979; nơi cư trú: Xã NH, huyện TK, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

3. Ông Đoàn Văn X; sinh năm 1964; nơi cư trú: Tổ dân phố 4, thị trấn ĐT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 01/7/2019, Đoàn Quốc A có vay của Hoàng Mạnh C số tiền 350.000.000 đồng, đến khoảng 19 giờ 20 phút ngày 07/7/2019, C cùng mẹ là bà H đi đến nhà nghỉ Xuân Xuân của gia đình Đoàn Quốc A để yêu cầu A trả tiền. Khi đến nhà nghỉ, C và bà H ngồi vào bàn nói chuyện với A và chị gái A là chị T về việc trả nợ, A hẹn thứ bảy tuần sau trả, nhưng C và bà H không đồng ý nên chị T bực tức và nói “Hai mẹ con đừng ép người quá đáng, có phải không trả nợ đâu”, thì giữa bà H và chị T xẩy ra cãi lộn nhau. Nghe thấy tiếng ồn ào, thì bà Q và chị H là nhân viên nhà nghỉ Xuân Xuân chạy ra đứng phía sau lưng bên trái chị T, chị Á là vợ của A cũng ra đứng phía sau lưng A. Lúc này giữa chị T và bà H vẫn tiếp tục cãi lộn, chị T bức xúc đứng dậy và có lời nói xúc phạm bà H, nên C liền cầm cốc thủy tinh để sẵn trên bàn, ném vào đầu chị T làm cốc thủy tinh bị vỡ và mãnh vỡ cốc thủy tinh văng vào mắt bên phải của bà Q gây thương tích rồi C và bà H ra về. Sau khi sự việc xảy ra, chị T và bà Q đi điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện ĐT, bệnh viện Hữu nghị đa khoa tỉnh Nghệ An đến ngày 12/7/2019 thì chị T ra viện, còn bà Q đến ngày 18/7//2019 cũng được ra viện.

Tại bản kết luận giám định thương tích số 175 ngày 12/7/2019 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Nghệ An xác định đối với chị Đoàn Thị T: Vết thương giữa trán đỉnh trên chân tóc và vết rách da trán đỉnh bên trái. Tỷ lệ thương tích cơ thể 01%.

Tại bản kết luận giám định thương tích số 176 ngày 12/7/2019 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Nghệ An xác định đối với bà Nguyễn Thị Q: Chấn thương mắt bên phải, rách giác mạc phức tạp mắt bên phải, đứt mống mắt bên phải đã được phẩu thuật khâu giác mạc phức tạp mắt bên phải. Hiện tại đồng tử mắt bên phải méo, phản xạ kém, mắt bên phải giảm thị lực. Tỷ lệ tổn thương cơ thề 17%.

Về tang vật thu giữ: Một số mãnh vở thủy tinh trong suốt; 02 chiếc USB (01 chiếc nhãn hiệu Kingston – Data traveler100G3 16GB trích xuất camera tại nhà nghỉ Xuân Xuân và 01 chiếc nhãn hiệu Kingston – DTSE9 4GB do ông Đoàn Văn Xuân giao nộp).

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại yêu cầu bồi thường tổng số tiền 124.000.000 đồng. Trong đó, bà Nguyễn Thị Q yêu cầu 114.000.000 đồng và chị Đoàn Thị T yêu cầu 10.000.000 đồng. Quá trình điều tra Hoàng Mạnh C đã tự nguyện bồi thường toàn bộ số tiền trên cho bà Q và chị T. Hiện tại các bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm và viết đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKSĐT ngày 11tháng 10 năm 2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Hoàng Mạnh C về tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Điểm đ Khoản 2 Điều 134; điểm b, s, t Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh C 24 (Hai bốn) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng.

Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy một số mãnh vở thủy tinh trong suốt và 02 chiếc USB ghi âm, ghi hình chứa đựng 02 đoạn video clip của vụ cố ý gây thương tích.

Buộc bị cáo Hoàng Mạnh C phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, xin giảm nhẹ hình phạt và không có khiếu nại gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Đức Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điểu tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng nhưng xét thấy họ đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ và việc vắng mặt của họ không làm cản trở việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự quyết định xét xử vụ án.

[2]. Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu; lời nhận tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, của người bị hại và những người tham gia tố tụng khác, đồng thời phù hợp với các đặc điểm vật chứng, giấy chứng nhận thương tích, kết luận giám định pháp y và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 19 giờ 20 phút ngày 07/7/2019, tại nhà nghỉ Xuân Xuân, Hoàng Mạnh C đã có hành vi dùng cốc thủy tinh, là hung khí nguy hiểm ném vào đầu chị Đoàn Thị T gây thương tích 01%, đồng thời các mãnh vỡ cốc thủy tinh văng vào mắt bên phải của bà Nguyễn Thị Q gây thương tích 17%. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” theo Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015.

Như vậy, Cáo trạng số 22/CT-VKSĐT ngày 11/10/2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ truy tố bị cáo Hoàng Mạnh Cường về tội danh và điều khoản nêu trên, cũng như quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại; tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm; người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; sức khỏe bị cáo hạn chế (bệnh phổi bị cắt thùy trên phổi trái) nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, s, t Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4]. Về quyết định hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây hoang mang lo lắng cho mọi người. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội để cải tạo giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét nguyên nhân dẫn đến hành vi cố ý gây thương tích của bị cáo có một phần trách nhiệm của bị hại; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội nên giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục theo Điều 65 Bộ luật hình sự là đủ cơ sở cải tạo tiến bộ.

[5]. Về xem xét trách nhiệm của người liên quan: Trong vụ án này, bà H đi cùng bị cáo C đến nhà nghỉ Xuân Xuân là để đòi nợ đối với anh A. Việc bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không có sự bàn bạc với bà H. Bà H, anh A không có lời nói, hành động gì liên quan trực tiếp dẫn đến việc cáo phạm tội nên không phải chịu trách nhiệm.

[6]. Về trách nhiệm dân sư: Bị cáo và các bị hại đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường tổng số tiền 124.000.000 đồng. Các bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Tòa không xem xét.

[7]. Về biện pháp tư pháp: Một số mãnh vở thủy tinh trong suốt là công cụ phạm tội nên căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy; 02 chiếc USB đã được niêm phong chứa đựng dữ liệu ghi nhận sự việc liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu lưu trong hồ sơ vụ án.

[8]. Về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điểm b, s, t Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65; Điểm a Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106; Khoản 1, 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3; Điều 5; Khoản 1 Điều 6; Khoản 1 Điều 21; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố bị cáo Hoàng Mạnh C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Hoàng Mạnh C 24 (Hai bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (Bốn tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hoàng Mạnh C cho chính quyền địa phương thị trấn ĐT, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện thủ tục theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 2 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Tch thu tiêu hủy một số mãnh vở thủy tinh trong suốt. Tịch thu lưu giữ cùng hồ sơ vụ án 02 chiếc USB đã được niêm phong.

Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/10/2019 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện ĐT và chi cục Thi hành án dân sự huyện ĐT lưu tại hồ sơ vụ án.

3. Buc bị cáo Hoàng Mạnh C phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 14/11/2019. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

95
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 24/2019/HS-ST ngày 14/11/2019 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:24/2019/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đức Thọ - Hà Tĩnh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 14/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về