Bản án 24/2019/HNGĐ-ST ngày 26/07/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH HẢI - TỈNH NINH THUẬN

BẢN ÁN 24/2019/HNGĐ-ST NGÀY 26/07/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 26 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 87/2019/TLST-HNGĐ ngày 04/4/2019 về việc "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/QĐST-HNGĐ ngày 19/7/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà T T N H - sinh năm: 1992 (có mặt)

- Bị đơn: Ông C V D - sinh năm: 1991 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn A N, xã X H, huyện N H, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 19/3/2019 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà T T N H trình bày:

Bà và ông Ch V D đã tìm hiểu và tiến đến hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X H, huyện N H, tỉnh Ninh Thuận vào ngày 18/9/2013. Vợ chồng có 01 con chung tên Ch K Ph, sinh năm 2014. Trong cuộc sống vợ chồng thường xuyên cải nhau do tính tình không hợp và ông D có tình cảm với người khác. Vợ chồng đã sống ly thân gần 02 năm. Hiện tại ông D đã sống chung với người phụ nữ khác. Do tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải giải quyết cho bà được ly hôn với ông D. Về con chung: Con chung tên C K P đang sống chung với bà, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu P và không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Hải thể hiện:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử luôn tuân theo pháp luật tố tụng và người tham gia tố tụng là nguyên đơn luôn chấp hành pháp luật. Riêng bị đơn cố tình vắng mặt từ lúc thụ lý vụ án đến khi xét xử nhưng không có lý do. Đề nghị HĐXX xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn với ông C V D.

Về con chung: Giao cháu C K Ph cho bà Hà tiếp tục nuôi dưỡng, ông D không cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Do bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về án phí: Bà H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà T T N H yêu cầu xin ly hôn với ông Ch V D, yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Ch K Ph và không yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con chung. Các đương sự đều có nơi cư trú trên địa bàn huyện Ninh Hải. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), HĐXX xác định đây là vụ án Hôn nhân và gia đình về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận.

[2] Tòa án ra thông báo về việc thụ lý vụ án và đã niêm yết, tống đạt hợp lệ cho bị đơn là ông Ch V D. Thông báo có ghi rõ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn (Yêu cầu xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con). Chứng cứ kèm theo là bản sao Giấy chứng nhận kết hôn và sổ hộ khẩu. Tuy nhiên, trong thời hạn 15 ngày theo quy định tại điều 199 của Bộ luật tố tụng dân sự ông D không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không phản đối chứng cứ do bà H cung cấp (khoản 2 điều 92 của BLTTDS). Sau khi thông báo về việc thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 02 lần, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của pháp luật. Ông D vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3] Về nội dung vụ án: Bà T T N H và ông Ch V D kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X H, huyện N H, tỉnh Ninh Thuận vào ngày 18/9/2013, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn bà H và ông D sống chung với nhau và có 01 con chung tên Ch K Ph, sinh năm 2014. Cuộc sống chung vợ chồng hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Theo Biên bản lấy lời khai của bà H, ngày 08/4/2019 (BL 30);

Biên bản lấy lời khai của bà T T L, mẹ ruột của ông D (BL 31), Biên bản xác minh tại chính quyền địa phương nơi đương sự cư trú (BL 32) có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Quá trình chung sống, bà H cho rằng ông D có tình cảm với người phụ nữ khác bên ngoài nên thường xuyên cải vã, đánh đập bà. Sau đó vợ chồng sống ly thân gần 02 năm. Chính quyền địa phương xác nhận hiện tại ông D đã chung sống như vợ chồng với người phụ nữ khác. Do tình cảm không còn nên bà xin ly hôn ông D. HĐXX nhận thấy tình trạng hôn nhân của bà H và ông D đã mâu thuẫn trầm trọng, ông D công khai chung sống như vợ chồng với người phụ nữ khác, không quan tâm đến vợ con. Do đó mục đích hôn nhân của bà H, ông D không đạt được, cuộc sống chung vợ chồng không thể kéo dài. Vì vậy, HĐXX căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, căn cứ ý kiến của Kiểm sát viên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T T N H.

[4] Về con chung: Hiện tại cháu C K Ph đang sống chung với bà H. Căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Giao cháu Ch Kh Ph, sinh năm 2014 cho bà Hà tiếp tục nuôi dưỡng, ông D không cấp dưỡng nuôi con chung.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Do bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[6] Về án phí: Căn cứ quy định khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Khoản 1 Điều 6 và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Bà H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 4 Điều 147, Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Khoản 1 Điều 6 và Điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Bà T T N H được ly hôn với ông Ch V D.

2. Giao cháu Ch K Ph, sinh năm 2014 cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng, ông D không cấp dưỡng nuôi con chung.

3. Về án phí: Bà H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai số 0019259 ngày 28/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện N H. Bà H đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 26/7/2019). Riêng bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày được niêm yết, tống đạt hợp lệ Bản án.


60
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 24/2019/HNGĐ-ST ngày 26/07/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con

Số hiệu:24/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Ninh Hải - Ninh Thuận
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 26/07/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về