Bản án 24/2019/HNGĐ-ST ngày 23/04/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 24/2019/HNGĐ-ST NGÀY 23/04/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 23 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện L, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2019/QĐXX- ST ngày 11 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lương Thị H, sinh năm 1991 “vắng mặt” Địa chỉ cư trú: Thôn G, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn: Anh Lê Mạnh C, sinh năm 1979 “vắng mặt” Địa chỉ cư trú: Thôn G, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 09/01/2019, các lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Lương Thị H trình bày: Chị và anh Lê Mạnh C đăng ký kết hôn năm 2010 tại UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở được tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện. Sau khi cưới chị về gia đình anh C làm dâu ngay. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc, đến năm 2014 xảy ra nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu và không tin tưởng nhau. Đến năm 2015 anh C bỏ vợ con đi làm ăn xa, không cùng chị nuôi dưỡng chăm sóc các con. Vợ chồng chị đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay, cắt đứt quan hệ tình cảm và kinh tế. Hai bên gia đình cũng đã hòa giải để vợ chồng về đoàn tụ nhưng không thành. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn.

Về nuôi con chung: Quá trình chung sống giữa chị và anh C có 02 con chung là Lê Bảo Trường, sinh năm 2011 và Lê Bảo Ngân, sinh năm 2013. Các cháu khỏe mạnh phát triển bình thường và hiện đang ở với chị. Ly hôn chị đề nghị được nuôi con cả hai con và không yêu cầu anh C cấp dưỡng. Hiện nay chị làm việc tại khu công nghiệp, thu nhập 8- 9 triệu đồng/tháng, đảm bảo đủ điều kiện để nuôi các con.

Về tài sản, công nợ: Vợ chồng chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do chị H có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của chị H.

Bị đơn, anh Lê Mạnh C có hộ khẩu thường trú tại thôn G, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã được Toà án giao, tống đạt các văn bản tố tụng thông qua bà Thân Thị Minh, là mẹ đẻ anh C theo đúng quy định của pháp luật, nhưng anh C không có ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tại phiên tòa, anh C vẫn vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện L tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm, phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký tòa án tuân theo đúng trình tự tố tụng. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử sơ thẩm thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về phía các đương sự, chị H chấp hành nghiêm chỉnh, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, anh C đã được tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình, các Điều 147, 227, 228, 271, 272 và 273 BLTTDS, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H xử cho chị Lương Thị H được ly hôn anh Lê Mạnh C.

Về nuôi con chung: Giao cho chị H trực tiếp nuôi 02 con Lê Bảo Trường, sinh năm 2011 và Lê Bảo Ngân, sinh năm 2013. Cấp dưỡng nuôi con, tài sản, công nợ các được sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Ngoài ra còn đề xuất về án phí và quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự. Anh C vắng mặt tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228, của BLTTDS xét xử vắng mặt anh C.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lương Thị H và anh Lê Mạnh C đăng ký kết hôn năm 2010 tại UBND xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở được tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, nên hôn nhân giữa chị H và anh C là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn nên chị H và anh C đã sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, cắt đứt quan hệ tình cảm và kinh tế. Nay chị H xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ được nên chị khởi kiện xin ly hôn anh C. Quá trình giải quyết vụ án anh C không có ý kiến gì. Điều đó chứng tỏ cuộc sống vợ chồng giữa chị H và anh C đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, xử cho chị H được ly hôn anh C.

[3] Về nuôi con chung: Quá trình chung sống giữa chị H và anh C có 02 con chung là Lê Bảo Trường, sinh năm 2011 và Lê Bảo Ngân, sinh năm 2013. Các cháu khỏe mạnh phát triển bình thường và hiện đang ở với chị H. Chị H đề nghị được nuôi con cả hai con và có đủ điều kiện để nuôi các con và cháu Trường cũng có nguyện vọng được ở với chị H nên cần căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình giao cho chị H nuôi cả hai con là phù hợp. Anh C có quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật. Chị H không đề nghị giải quyết về cấp dưỡng nên không đặt ra xem xét.

[4] Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81,82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 227, 228 khoản 4 Điều 147, 271, 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 24, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lương Thị H và anh Lê Mạnh C.

2. Về nuôi con chung: Giao cho chị H trực tiếp nuôi 02 con chung Lê Bảo Trường, sinh năm 2011 và Lê Bảo Ngân, sinh năm 2013. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở anh C thực hiện quyền này.

3. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu số AA/2017/0003713 ngày 10/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện L.

Báo cho các đương sự vắng mặt tại phiên tòa biết, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.


105
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 24/2019/HNGĐ-ST ngày 23/04/2019 về ly hôn

Số hiệu:24/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lục Nam - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:23/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về