Bản án 24/2019/HNGĐ-ST ngày 22/02/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẤM DƠI, TỈNH CÀ MAU.

BẢN ÁN 24/2019/HNGĐ-ST NGÀY 22/02/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON

Ngày 22 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Dương Duy K , sinh năm 1990.

Cư trú tại: ấp A, xã T , huyện Đ, tỉnh C . (có mặt)

- Bị đơn: Chị Trần Cẩm T , sinh năm 1989.

Cư trú tại: ấp A, xã T , huyện Đ, tỉnh C. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/01/2019 và trong qúa trình xét xử nguyên đơn anh Dương Duy Khánh trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Trần Cẩm T tổ chức đám cưới theo phong tục truyền thống vào năm 2009, hôn nhân tự nguyện nhưng không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống đến năm 2017 chị T bỏ nhà đi, từ đó vợ chồng ly thân. Vào ngày 15/3/2018 anh có đơn yêu cầu ly hôn với chị Tiên gởi Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi. Ngày 23/11/2018 Tòa án đưa vụ án ra xét xử, tại phiên tòa anh xét thấy còn tình cảm với vợ và thương hai con còn nhỏ, nên anh rút đơn khởi kiện để về vợ chồng đoàn tụ chung sống nuôi con. Sau khi đoàn tụ vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình, thân tộc hai bên hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Từ đó tình cảm giữa anh với chị T không còn gắn bó, thương yêu nhau, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai có trách nhiệm với ai và hiện nay vợ chồng đã ly thân.

Nay anh K nhận thấy tình trạng hôn nhân lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T .

Về nuôi con chung: Có 02 con chung tên Dương Duy K g, sinh ngày 10/3/2011 và Dương Ngọc G , sinh ngày 03/8/2012. Hiên các cháu đang sống cùng anh. Khi ly hôn anh yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, cấp dưỡng không đặt ra.

Về chia tài sản: Anh và chị T đã có văn bản thỏa thuận ngày 12/11/2018, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ người khác và người khác nợ lại: Anh K xác định không có.

Đối với bị đơn chị Trần Cẩm T : Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho chị T theo quy định pháp luật, nhưng chị Tiên không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh K .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Chị Trần Cẩm T là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi tiến hành cấp, tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ đến Tòa án để tham gia tố tụng, nhưng chị T vắng mặt không có lý do, theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T .

[2] Về hôn nhân: Anh Dương Duy K và chị Trần Cẩm T tổ chức đám cưới theo phong tục truyền thống vào năm 2009, hôn nhân tự nguyện, không đăng ký kết hôn và đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn theo quy định, nên quan hệ hôn nhân của anh chị không có giá trị pháp lý theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Trong quá trình chung sống đến năm 2017 chị T bỏ nhà đi, từ đó vợ chồng ly thân. Vào ngày 15/3/2018 anh có đơn yêu cầu ly hôn với chị T . Tại phiên tòa anh xét thấy còn tình cảm với chị T và thương hai con còn nhỏ, nên anh rút đơn khởi kiện để về vợ chồng đoàn tụ chung sống nuôi con. Sau khi đoàn tụ vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn. Mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình thân tộc hai bên hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Từ đó tình cảm giữa anh với chị T không còn gắn bó, thương yêu nhau, mỗi người có cuộc sống riêng, không ai có trách nhiệm với ai và hiện nay vợ chồng đã ly thân. Tại phiên tòa anh Khánh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị T . Do anh Khánh và chị T không thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình, nên Hội đồng xét xử không công nhận anh K và chị T là vợ chồng.

[3] Về nuôi con chung: Tên Dương Duy K , sinh ngày 10/3/2011 và Dương Ngọc G , sinh ngày 03/8/2012. Hiên các cháu đang sống cùng anh K h. Khi ly hôn anh K yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, cấp dưỡng không đặt ra.

Hội đồng xét xử thấy rằng, tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định “vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vong của con” viện dẫn từ điều luật trên, theo nguyện vọng của cháu Dương Duy K và Dương Ngọc G thể hiện tại văn bản ghi lời khai ngày 17 tháng 01 năm 2019, cháu Khương và G có nguyện vọng ở với anh K . Ngoài ra, từ khi anh chị ly thân đến nay, cháu K và cháu G do anh K trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng ổn định và đang học tại Trường tiểu học Thế Phong. Do đó, cần giao cháu K và G cho anh K tiếp tục nuôi dưỡng. Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cấp dưỡng nuôi con anh K không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.

[4] Về chia tài sản: Anh K và chị T có văn bản thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về nợ người khác và người khác nợ lại: Anh K xác định không có.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm: Tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định: Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, anh K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào Điều 9, khoản 1 Điều 14; khoản 2 Điều 53 và khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân:

Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Dương Duy K và chị Trần Cẩm T .

2. Về nuôi con chung: Giao Dương Duy K , sinh ngày 10/3/2011 và Dương Ngọc G , sinh ngày 03/8/2012 cho anh K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. trở.

Chị Trần Cẩm T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản

3. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh K phải chịu 300.000 đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0008948 ngày 10/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; anh K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Anh K có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị T có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.


87
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 24/2019/HNGĐ-ST ngày 22/02/2019 về tranh chấp ly hôn, nuôi con

Số hiệu:24/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Đầm Dơi - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:22/02/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về