Bản án 24/2018/HNGĐ-ST ngày 27/02/2018 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 24/2018/HNGĐ-ST NGÀY 27/02/2018 VỀ LY HÔN

Ngày 27 tháng 02 năm 2018 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Trực Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 10/2018/TLST - HNGĐ ngày 23/01/2018 về việc Ly hôn.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2018/QĐ - ST ngày 12/02/2018 giữa các đương sự :

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị T – Sinh năm: 1991. Địa chỉ: Đội 4 T, xã L, huyện T, tỉnh Nam Định.

Bị đơn: Anh Trần Văn D – Sinh năm 1990.

Địa chỉ: Xóm 9/2 , xã V, huyện T, tỉnh Nam Định.

Hiện đang chấp hành án tại: Đội 33, phân trại 1, trại giam Phú Sơn 4, huyện Phú Sơn, tỉnh Thái Nguyên.

Tại phiên tòa: Có mặt chị T, anh D có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn, bản tự khai và tại phiên toà, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị T trình bày:

Chị kết hôn với anh Trần Văn D vào ngày 16 tháng 12 năm 2012 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện T, tỉnh Nam Định. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau bình thường, đến ngày 07 tháng 11 năm 2013  anh D có hành vi trộm cắp tài sản và bị xử phạt 8 năm tù, hiện anh D đang chấp hành án tại Đội 33, phân trại 1, trại giam Phú Sơn 4, huyện Phú Sơn, tỉnh Thái Nguyên. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị xin được ly hôn để yên tâm làm ăn.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung.

Về tài sản; khoản nợ: Vợ chồng không có tài sản, khoản nợ nào nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai, đơn đề nghị xin vắng mặt, bị đơn là anh Trần Văn D trình bày: Anh xác nhận thời gian kết hôn đúng như chị T đã trình bày, do vi phạm pháp luật nên hiện nay anh đang chấp hành án tại: Đội 33, phân trại 1, trại giam Phú Sơn 4, huyện Phú Sơn, tỉnh Thái Nguyên. Chị T xin ly hôn anh cũng nhất trí.

Về con chung: Vợ chồng không có con chung.

Về tài sản; khoản nợ: Vợ chồng không có tài sản, khoản nợ nào, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa của Thẩm phán và HĐXX đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung: Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị T. Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn D; Về con chung, tài sản, khoản nợ không có nên không giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được, anh D có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung vụ án:

Chị Nguyễn Thị T kết hôn với anh Trần Văn D vào ngày 16 tháng 12 năm 2012 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công  nhận. Quá trình vợ chồng chung sống được thời gian ngắn thì anh D vi phạm pháp luật, hiện anh D đang chấp hành án tại Đội 33, phân trại 1, trại giam Phú Sơn 4, huyện Phú Sơn, tỉnh Thái Nguyên. Nay chị T xin ly hôn anh D có lời khai nhất trí ly hôn.

Xét thực tế quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn D đã thực sự tan vỡ, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung: Vợ chồng đều xác định không có con chung nên không xem xét giải quyết.

Về tài sản, công nợ: Vợ chồng không có tài sản, công nợ gì, đều có lời khai không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra.

Án phí: Chị T phải nộp theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.

1. Xử cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị T và anh Trần Văn D.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị T phải nộp 300.000 đồng, đối trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị T đã nộp theo biên lai thu tiền số 04717 ngày 23/01/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định (Chị Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm).

Trong thời hạn 15 ngày: Chị Nguyễn Thị T có quyền kháng cáo kể từ ngày tuyên án, anh Trần Văn D vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được Bản án.


85
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 24/2018/HNGĐ-ST ngày 27/02/2018 về ly hôn

Số hiệu:24/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trực Ninh - Nam Định
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:27/02/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Án lệ được căn cứ
         
        Bản án/Quyết định phúc thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về