Bản án 239/2020/HS-ST ngày 27/10/2020 về tội cướp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA –VŨNG TÀU  

BẢN ÁN 239/2020/HS-ST NGÀY 27/10/2020 VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN

Ngày 27 tháng 10 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 248/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 268/2020/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:

Phạm Tiến L (tên gọi khác U), sinh năm 1991 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở trước khi bị bắt: Ấp Phước N, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Phạm Tiến V, sinh năm 1959; Mẹ: Võ Thị X, sinh năm: 1956; Có 04 chị em, bị cáo là con út; Chung sống với chị Tô Thị Ngọc T nhưng không đăng ký kết hôn và có 01 con chung là Tô Thị Phương Tr, sinh năm: 2010.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Năm 2017, bị Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 03 năm 02 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 73/2017/HS-ST ngày 25-9-2017; chấp hành xong hình phạt tù ngày 10-12-2019.

Nhân thân:

- Năm 2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Quyết định số 2630/QĐ ngày 22-9-2010 của UBND huyện Long Điền áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn là 24 tháng. Chấp hành xong ngày    .

Bị bắt ngày 28-4-2020, hiện đang bị tạm giam tại Trại giam Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (có mặt).

* Bị hại: Chị Lưu Thị Mai L, sinh năm 1999, địa chỉ: Số 444A đường C, Phường M, thành phố V, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Anh Lê Hoàng Ph, sinh năm: 1985. (Vắng mặt) Địa chỉ: Tổ S, khu phố H, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Bà Võ Thị X, sinh năm: 1956. (Vắng mặt) Địa chỉ: Tổ B, khu phố H, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Người làm chứng: Chị Nguyễn Phương Mai T, sinh năm: 1999. Địa chỉ: Số 52 đường T5, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài và sử dụng ma túy nên Phạm Tiến L nảy sinh ý định đi cướp giật của người đi đường. Do đó, vào khoảng 16 giờ 50 phút ngày 17-4-2020, L điều khiển xe mô tô hiệu Honđa loại Winner X, màu trắng – đỏ, biển số 72K1- 548.69 đi đến khu vực cợ CH, Phường M, thành phố V thì nhìn thấy chị Lưu Thị Mai L đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Airblade đang đi hướng ngược chiều với L, trong túi áo khoác của chị L có để một cái ví màu đen nhãn hiệu Prada nên L quay đầu xe bám theo chị L để chờ cơ hội giật cái ví đó của chị L. Đi được một đoạn, L nhìn thấy chị L dừng xe lại chở thêm một người phụ nữ (tên Nguyễn Phương Mai T), L vẫn tiếp tục bám theo. Khi chị L điều khiển xe đi đến trước số nhà 743A đường B, phường N, thành phố V thì L cho xe máy áp sát bên trái xe chị L, dùng tay phải giật cái ví của chị L, rồi đưa lên miệng dùng miệng giữ cái ví, sau đó tăng ga chạy thoát. L chạy đến khu vực nghĩa địa trên đường P, thành phố V dừng lại kiểm tra tài sản gồm có: số tiền 1.000.000đ và 01 điện thoại di động hiệu Iphone ProMax 256GB, màu vàng. L lấy tài sản rồi vứt cái ví cùng các giấy tờ tùy thân bên trong ví vào nhà một người dân nhằm mục đích để họ trả lại cho chị Lưu Thị Mai L. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, L mang điện thoại di động hiệu Iphone ProMax đến cửa hàng điện thoại di động tại tổ S, khu phố H, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu gặp anh Lê Hoàng Ph, thỏa thuận đổi chiếc điện thoại hiệu Iphone nêu trên lấy 01 điện thoại Samsung A750 trị giá 3.700.000đ, anh Ph đưa thêm cho L số tiền là 6.300.000đ. Sau đó L đã tiêu xài hết số tiền này và số tiền cướp giật được, vài ngày sau đó L tiếp tục bán điện thoại Samsung A750 được 1.500.000đ, số tiền này L cũng đã tiêu xài hết.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 151/KL ngày 20-8-2020 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng Hình sự, kết luận 01 điện thoại di động hiệu Iphone ProMax 256GB, màu vàng của chị L bị L chiếm đoạt có giá trị 12.500.000đ (mười hai triệu năm trăm ngàn đồng).

Tại Cơ quan Công an, L đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.

* Việc thu giữ và xử lý tài liệu, đồ vật, vật chứng:

- Về thu giữ tài liệu, đồ vật, vật chứng:

+ Thu giữ 01 chiếc xe máy hiệu Honda loại Winner X màu trắng – đỏ, biển số 72K1 – 548.69 và một đôi dép da xỏ ngón có chữ “ Hải Anh” của L.

+ Thu giữ một bóp màu đen, chất liệu vải, nhãn hiệu Prada Milano và các giấy tờ cá nhân mang tên Lưu Thị Mai L.

- Về xử lý tài liệu, đồ vật, tài sản:

+ Qua xác minh chiếc xe máy hiệu Honda loại Winner X màu trắng – đỏ, biển số 72K1 – 548.69 là của bà Võ Thị X là mẹ ruột của L, bà X cho L mượn sử dụng nhưng không biết L sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi cướp giật tài sản. Do đó, ngày 24-8-2020 Cơ quan công an đã trả lại chiếc xe máy hiệu Honda loại Winner X màu trắng – đỏ, biển số 72K1 – 548.69 cho bà X.

+ Cơ quan Công an đã trả lại một bóp màu đen, chất liệu vải, nhãn hiệu Prada Milano và các giấy tờ cá nhân mang tên Lưu Thị Mai L cho chị L.

Vật chứng còn lại hiện đang do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý.

* Về trách nhiệm dân sự: 01 điện thoại di động hiệu Iphone ProMax 256GB, màu vàng của chị Lưu Thị Mai L bị L chiếm đoạt không thu hồi lại được, nên chị L yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị bằng tiền là 12.500.000đ (mười hai triệu năm trăm ngàn đồng).

Bản cáo trạng số 252/CT-VKS ngày 30-9-2020-2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Phạm Tiến L về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố đối với bị cáo, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Cướp giật tài sản”; áp dụng điểm d, khoản 2, Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h, khoản 1, Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại chị L số tiền là 12.500.000đ (mười hai triệu năm trăm ngàn đồng).

- Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy một đôi dép da xỏ ngón có chữ “Hải Anh” do không còn giá trị sử dụng.

Bị cáo Phạm Tiến L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Vũng Tàu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại theo quy định tại các điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo được xác định như sau:

Căn cứ lời khai nhận hành vi của bị cáo tại phiên tòa, đối chiếu lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Vào khoảng 16 giờ 50 phút ngày 17-4-2020, L điều khiển xe mô tô hiệu Honđa loại Winner X, màu trắng – đỏ, biển số 72K1-548.69 đi đến khu vực cợ CH, Phường M, thành phố V thì nhìn thấy chị Lưu Thị Mai L đang điều khiển xe mô tô hiệu Honda loại Airblade đang đi hướng ngược chiều với L, trong túi áo khoác của chị L có để một cái ví màu đen nhãn hiệu Prada nên L quay đầu xe bám theo chị L để chờ cơ hội giật cái ví đó của chị L. Đi được một đoạn, L nhìn thấy chị L dừng xe lại chở thêm một người phụ nữ (tên Nguyễn Phương Mai T), L vẫn tiếp tục bám theo. Khi chị L điều khiển xe đi đến trước số nhà 743A đường B, phường N, thành phố V thì L cho xe máy áp sát bên trái xe chị L, dùng tay phải giật cái ví của chị L, rồi đưa lên miệng dùng miệng giữ cái ví, sau đó tăng ga chạy thoát. L chạy đến khu vực nghĩa địa trên đường P, thành phố V dừng lại kiểm tra tài sản gồm có: số tiền 1.000.000đ và 01 điện thoại di động hiệu Iphone ProMax 256GB, màu vàng. L lấy tài sản rồi vứt cái ví cùng các giấy tờ tùy thân. Số tiền và điện thoại giật được L đã bán và tiêu sài hết.

Vì vậy, hành vi của bị cáo L đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d, khoản 2, Điều 171 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiêm, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây bất an cho xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu và cũng vừa bị xử phạt tù về hành vi “trộm cắp tài sản” trước đó, chấp hành xong hình phạt vào ngày 17-01-2020 đến ngày 14-4-2020 đã tiếp tục phạm tội, thể hiện ý thức coi thường pháp luật, chưa thực sự ăn năn hối cải để hoàn lương của bị cáo. Do đó, cần tuyên một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân để răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Năm 2017, bị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 03 năm 02 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy theo Bản án số 73/2017/HS-ST ngày 25-9- 2017; chấp hành xong hình phạt tù ngày 10-12-2019 nhưng chưa được xóa án tích nay lại thực hiện hành vi cướp giật tài sản nên thuộc trường hợp tái phạm theo điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, nên xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có nhân thân xấu cụ thể như sau: Năm 2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; Ngày 22-9- 2010 bị UBND huyện Long Điền ra Quyết định số 2630/QĐ về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh thời hạn là 24 tháng.

[5] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy một đôi dép da xỏ ngón có chữ “Hải Anh” của bị cáo do không còn giá trị sử dụng.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị L yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị còn lại của 01 điện thoại di động hiệu Iphone ProMax 256GB, màu vàng là 12.500.000đ (Mười hai triệu năm trăm ngàn đồng) cho chị L. Tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 12.500.000đ (Mười hai triệu năm trăm ngàn đồng) cho chị L. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị L buộc bị cáo phải bồi thường giá trị bằng tiền là 12.500.000đ (Mười hai triệu năm trăm ngàn đồng) cho bị hại chị L.

[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch do yêu cầu của bị hại chị L được chấp nhận là 625.000đ (12.500.000 x 5%).

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố:

Bị cáo Phạm Tiến L phạm tội “Cướp giật tài sản”.

1. Áp dụng điểm d, khoản 2, Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt Phạm Tiến L 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 28-4-2020.

2. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy một đôi dép da xỏ ngón có chữ “Hải Anh” Vật chứng nêu trên Chi cục Thị hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 16/BB.THA ngày 27-10-2020.

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo phải bồi thường số tiền 12.500.000đ (Mười hai triệu năm trăm ngàn đồng) cho chị Lưu Thị Mai L.

3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 625.000đ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa nên thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu TAND tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.


8
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
       
      Bản án/Quyết định đang xem

      Bản án 239/2020/HS-ST ngày 27/10/2020 về tội cướp tài sản

      Số hiệu:239/2020/HS-ST
      Cấp xét xử:Sơ thẩm
      Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vũng Tàu - Bà Rịa - Vũng Tàu
      Lĩnh vực:Hình sự
      Ngày ban hành:27/10/2020
      Là nguồn của án lệ
        Bản án/Quyết định sơ thẩm
          Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về