Bản án 23/2021/HNGĐ-ST ngày 23/04/2021 về không công nhận là vợ chồng

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D – TỈNH LÂM ĐỒNG

 BẢN ÁN 23/2021/HNGĐ-ST NGÀY 23/04/2021 VỀ KHÔNG CÔNG NHẬN LÀ VỢ CHỒNG

Ngày 23 tháng 4 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện D. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2021/TLST-HNGĐ ngày 18-01-2021 về việc Không công nhận là vợ chồng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2021/QĐXX-HNGĐ ngày 26-3-2021 của Tòa án nhân dân huyện D giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Đ, sinh 1975.Địa chỉ: Thôn 3, xã Hòa N, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

+ Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Ng, sinh năm 1970.Địa chỉ: Thôn 3, xã Hòa N, huyện D, tỉnh Lâm Đồng.

Bà Đ, ông Ng có mặt tại phiên tòa.

 NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, lời khai và lời trình bày tại phiên tòa nguyên đơn bà Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Ng tự nguyện về chung sống từ năm 1992, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán nhưng không đăng ký kết hôn, đến nay cũng không đi đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do sống không hợp nhau và đã sống ly thân từ đầu năm 2020 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết không công nhận là vợ chồng.

Về con chung: Bà và ông Ng có 03 con chung tên Nguyễn Anh T, sinh năm 1994; Nguyễn Duy Ph, sinh năm 1995 đã mất; Nguyễn Xuân Tr, sinh ngày 01-5- 2003. Hiện cháu T đã trưởng thành hoàn toàn khỏe mạnh, khi yêu cầu không công nhân là vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết còn cháu Tr bà theo nguyện vọng của con.

Về tài sản: Tài sản chung bà và ông Ng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản nợ chung và tài sản cho vay chung không có.

Bị đơn ông Ng trình bày: Công nhận lời trình bày của bà Đ về quan hệ hôn nhân con chung và tài sản như trên là đúng. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn bà Đ yêu cầu không công nhận vợ chồng ông đồng ý. Ông và bà Đ có 03 con chung tên Nguyễn Anh T, sinh năm 1994; Nguyễn Nguyễn Duy Ph, sinh năm 1995 đã mất; Nguyễn Xuân Tr, sinh ngày 01-5-2003. Hiện cháu T đã trưởng thành, hoàn toàn khỏe mạnh không yêu cầu Tòa án giải quyết còn cháu Tr ông xin được trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu bà Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản: Tài sản chung ông và bà Đ tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tài sản nợ chung và tài sản cho vay chung không có.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện D, tỉnh Lâm Đồng có quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình giải quyết vụ án là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung giải quyết vụ án, căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao con chung cho ông Ng trực tiếp nuôi dưỡng, bà Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

 Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đ và ông Ng tự nguyện về chung sống từ năm 1992, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán nhưng không đăng ký kết hôn, đến nay cũng không đi đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, hiện nay không còn tình cảm, yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận là vợ chồng ông Ng cũng đồng ý. Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Đ và ông Ng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 14; Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử không công nhận bà Đ và ông Ng là vợ chồng là phù hợp.

[2] Về con chung: Bà Đ và ông Ng xác định vợ chồng có 03 con chung tên Nguyễn Anh T, sinh năm 1994; Nguyễn Duy Ph, sinh năm 1995 đã mất; Nguyễn Xuân Tr, sinh ngày 01-5-2003. Khi không công nhận là vợ chồng bà Đ theo nguyện vọng của con còn ông Ng xin được trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu bà Đ cấp dưỡng nuôi con. Xét quyền lợi của con, để đảm bảo cuộc sống của con, khả năng nuôi dưỡng con của mỗi bên và nguyên vọng của con, căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 giao các con chung cho ông Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Đ không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

[3] Về tài sản: Bà Đ và ông Ng xác định tài sản chung tự thỏa thuận tài sản nợ chung và tài sản cho vay chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết về tài sản.

[4] Về án phí : Căn cứ Điều 144; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 266; Điều 273 Bộ luật tố tụng sân sự;

Khoản 1 Điều 14; Điều 53; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 và Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

1.Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Phạm Thị Đ với ông Nguyễn Văn Ng là vợ chồng 2.Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Xuân Tr, sinh ngày 01-5- 2003 cho ông Ng trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi cấp dưỡng được thực hiện theo quy định Luật hôn nhân và gia đình.

3.Về án phí: Bà Phạm Thị Đ phải chịu 300.000đ án phí xin ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001907 ngày 18-01-2021 của Chi cục thi án dân sự huyện D( Đã nộp đủ án phí).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


36
Bản án/Quyết định đang xem

 Bản án 23/2021/HNGĐ-ST ngày 23/04/2021 về không công nhận là vợ chồng

Số hiệu:23/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Di Linh - Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:23/04/2021
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về