Bản án 23/2020/HS-ST ngày 10/06/2020 về tội cố ý gây thương tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỮU LŨNG, TỈNH LẠNG SƠN

BẢN ÁN 23/2020/HS-ST NGÀY 10/06/2020 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH 

Ngày 10 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2020/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2020/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2020, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D, sinh ngày 18 tháng 6 năm 1972, tại Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã Đ, huyện C, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoa: Lớp 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn G và bà Nguyễn T; có vợ là Đỗ H và 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/4/1993 bị Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt 03 năm tù giam về tội cướp tài sản (Bản án số 21/HSST); ngày 27/3/2000, bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc theo Quyết định số 576 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lạng sơn, thời hạn 24 tháng; ngày 05/11/2009, bị Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính 350.000 đồng về hành vi gây rối trật tự; ngày 01/10/2010, bị Công an huyện V, tỉnh Lạng Sơn xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi hủy hoại tài sản, án tích và các lần xử phạt vi phạm hành chính đó đã được xoá; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/12/2019, bị bắt tạm giam ngày 13/12/2019 đến nay. Có mặt.

- Bị hại: Ông Văn K. Địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Trần T: Địa chỉ: Khu A, thị trấn H, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Ông NLC1. Vắng mặt.

2. Ông NLC2. Có mặt.

3. Ông NLC3. Vắng mặt.

4. Ông NLC4. Vắng mặt.

5. Ông NLC5. Vắng mặt.

6. Bà NLC6. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 12/01/2017, sau khi uống rượu, Nguyễn Văn D cùng NLC2, NLC1 và một người đàn ông D gọi là Phú (không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) cùng đi hát tại quán Karaoke Thắng Đông thuộc thôn Gốc Gạo, xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn. Khoảng 23 giờ, sau khi hát xong, D cùng NLC2 và Phú ra ngoài sân quán ngồi uống nước thì gặp Văn K. Do quen biết NLC2 nên K ngồi lại nói chuyện với NLC2. Một lúc sau, D nghe thấy NLC2 và K nói chuyện to tiếng, nghĩ rằng hai người đang cãi nhau, vì muốn bênh vực NLC2 nên D lấy một con dao nhọn loại dao gấp mà D mang theo từ trước để ở trong túi quần phía trước bên phải ra, mở lưỡi dao, tay phải cầm chuôi dao đâm 01 nhát theo hướng thẳng từ trên xuống trúng vào bả vai trái của K trong tư thế K đang ngồi còn D đứng bên trái cách khoảng 0,5 m. Sau khi bị D đâm, K chạy ra ngoài cửa quán và được mọi người đưa đi cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện Hữu Lũng. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội D đã bỏ trốn.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 7664/17/TgT ngày 10/3/2017 của Trung tâm pháp y Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Văn K là 11%.

Ngày 10/11/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hữu Lũng, ra Quyết định truy nã đến ngày 10/12/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hữu Lũng, đã bắt được Nguyễn Văn D.

Về vật chứng: Con dao nhọn loại dao gấp mà Nguyễn Văn D sử dụng để gây thương tích cho Văn K, không thu giữ được.

Ngày 10/4/2020 hai bên đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong với số tiền 10.000.000 đồng và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Cáo trạng số 17/CT-VKSHL-HS ngày 31 tháng 3 năm 2020, Viện kiểm sát nhân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội Cố ý gây thương tích, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội Cố ý gây thương tích. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Về trách nhiệm dân sự, không xem xét.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, trong lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định về thương tích và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 23 giờ ngày 12/01/2017, tại quán Karaoke Thắng Đông thuộc thôn Gốc Gạo, xã Tân Thành, huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Nguyễn Văn D đã có hành vi dùng dao là hung khí nguy hiểm gây thương tích 11% cho bị hại anh Văn K. Trước khi gây thương tích cho bị hại thì giữa bị cáo và bị hại không quen biết, không có xích mích gì nhưng chỉ do nhầm tưởng bị hại đang cãi nhau với bạn của mình, bị cáo đã dùng dao gây thương tích cho bị hại, điêu đo thê hiên tinh chât côn đô , hung han, coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe người khác của bị cáo.

[3] Khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội thì Bộ luật Hình sự năm 1999 đang có hiệu lực, do đó, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Cố ý gây thương tích, theo khoản 2 Điều 104 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuy nhiên, theo khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 thì khung hình phạt thấp hơn nên theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo, Hội đồng xét xử áp dụng Bộ luật Hình sự năm 2015 khi xét xử bị cáo.

[4] Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây hoang mang trong cộng đồng dân cư nơi xảy ra vụ án, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương nên cần phải được xử lý nghiêm trước pháp luật.

[5] Về nhân thân: Bị cáo từng có một tiền án và nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính, mặc dù đến nay án tích và các lần xử phạt vi phạm hành chính đó đều đã được xoá, nhưng điều đó cho thấy bị cáo là người có nhân thân xấu. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội; việc bồi thường thiệt hại cho bị hại đã xong; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử sẽ xem xét, áp dụng các tình tiết trên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo. Về tình tiết tăng nặng không có.

[6] Xét lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân và về mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc mức án phù hợp để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, đồng thời đảm bảo tính chất răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[7] Về bồi thường thiệt hại: Hai bên đã tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong, tại đơn xin xét xử vắng mặt bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phả trả lại số tiền 10.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội Cố ý gây thương tích.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/12/2019.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.


12
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2020/HS-ST ngày 10/06/2020 về tội cố ý gây thương tích

Số hiệu:23/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hữu Lũng - Lạng Sơn
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành:10/06/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về