Bản án 23/2019/HSST ngày 26/02/2019 về tội buôn bán hàng cấm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ V - TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 23/2019/HSST NGÀY 26/02/2019 VỀ TỘI BUÔN BÁN HÀNG CẤM

Ngày 26 tháng 02 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố V xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2019/TLST-HS ngày 25 tháng 01 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2019/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2019 đối với bị cáo:

- Họ và tên: Nguyễn Anh T - sinh ngày: 29/3/1989; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu 3, xã V, huyện P, tỉnh Phú Thọ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Bố đẻ: Nguyễn Văn B – sinh năm 1961; Mẹ đẻ: Đỗ Thị B - sinh năm 1961; Gia đình có 3 chị em ruột, bị cáo là con thứ 3; Vợ: Nguyễn Thị H – sinh năm 1989; Con: có 02 con ( lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2015); Tiền án - Tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 220/2011/HSST ngày 26/9/2011 Toàn án nhân dân thành phố V, tỉnh Phú Thọ xử phạt T 24 tháng tù về “ Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 23/5/2011. T chấp hành hình phạt tù xong ngày 23/10/2012; Chấp hành xong các quyết định khác của bản án ngày 26/9/2011; Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 145 ngày 20/4/2017 của Công an thành phố V đối với Nguyễn Anh T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, mức phạt: 1.000.000 đồng. T đã chấp hành xong ngày 05/5/2017 Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28/11/2018 đến ngày 01/12/2018 được thay thế bằng biện pháp "Cấm đi khỏi nơi cư trú" . Hiện bị cáo đang tại ngoại tại Khu 3, xã V, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (Có mặt tại phiên tòa)

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị H Sinh năm 1983; HKTT: Khu 3, xã V, huyện P, tỉnh Phú Thọ; (Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 19 giờ 30 ngày 28/11/2018 tại đường H thuộc khu 1A, Phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Tổ công tác đội Cảnh sát kinh tế - Công an thành phố V phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Anh T – sinh năm 1989, hộ khẩu thường trú: Khu 3, xã V, huyện P, tỉnh Phú Thọ đang có hành vi vận chuyển trái phép pháo nổ. Tổ công tác đã lập biên bản bắt quả tang, thu giữ vật chứng: 01 hộp bìa cát tông bên trong có đựng 05 hộp pháo có vỏ bọc ngoài màu đỏ, vàng; mỗi hộp có kích thước (14 x 14 x 15)cm, bên trong mỗi khối hộp gồm 36 vật hình trụ vỏ giấy được liên kết với nhau. Có khối lượng 7,7kg, T khai nhận đó là pháo nổ; 01 điện thoại nhãn hiệu NokiA C1-01, số imei: 353262057203324 đã qua sử dụng, có lắp sim số thuê bao 0779302421; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirius, biển kiểm soát: 19R1 – 2013, T sử dụng xe mô tô vận chuyển số pháo nổ trên mục đích để bán kiếm lời, tổ công tác đã tiến hành niêm phong vật chứng theo quy định .

Ngày 29/11/2018, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã trưng cầu Viện khoa học hình sự Bộ công an giám định số pháo đã thu được của Nguyễn Anh T. Bản kết luận giám định số 6729/C09-P2 ngày 29/11/2018 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an, kết luận:

“ Các mẫu vật gửi đến giám định đều là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháo nổ(có chứa thuốc pháo, khi đốt có gây tiếng nổ), khối lượng là 7,4 kg”.

Trả lại mẫu vật sau khi trích 1,4 kg pháo để giám định”. (còn lại 6kg sau giám định).

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ điều tra làm rõ hành vi của Nguyễn Anh T như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 27/11/2018, T một mình đi bộ qua khu vực cổng trường phổ thông trung học T thuộc xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ, gặp và mua của một người nam giới (không rõ tên, tuổi địa chỉ) 05 hộp pháo nổ được đựng trong một hộp bìa cát tông với số tiền 1.000.000 đồng. Sau khi mua được pháo, T đem về cất dấu ở gần nhà tại khu 3 xã V - huyện P, tỉnh Phú Thọ, với mục đích tìm người có nhu cầu mua pháo nổ thì bán lấy tiền chênh lệch chi tiêu cá nhân. Đến khoảng 18 giờ 50 phút ngày 28/11/2018, khi T đang ở nhà thì có một người nam giới sử dụng điện thoại có số thuê bao 0795114730 gọi đến số điện thoại T đang sử dụng là 0779302421 để hỏi mua pháo nổ. Qua trao đổi điện thoại T đồng ý bán pháo cho người nam giới với giá 05 hộp x 550.000đ/1hộp = 2.750.000đồng và hẹn mang pháo đến khu vực cây xăng Quân khu 2 thuộc phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ để trao đổi mua bán. Ngay sau đó T đã lấy xe mô tô YAMAHA Sirius, biển kiểm soát: 19R1 - 2013 của vợ là chị Nguyễn Thị H - sinh năm 1983, hộ khẩu thường trú: khu 3, xã V, huyện P, tỉnh Phú Thọ, rồi một mình điều khiển xe mô tô chở hộp cát tông bên trong có 05 hộp pháo nổ đi đến điểm hẹn để bán. Khi T đi đến đường Hùng Vương thuộc khu 1A, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ thì bị Tổ công tác Công an thành phố V, kiểm tra bắt quả tang thu toàn bộ số pháo nổ như đã nêu trên .

Đối với người nam thành niên bán pháo nổ cho T ngày 27/11/2018 do trời tối, T không nhìn rõ đặc điểm và T không biết tên, không hỏi tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xác định được người đã bán pháo nổ cho T.

Đối với người có sử dụng số điện thoại 0795114730 gọi để mua pháo nổ của T, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an thành phố V xác minh số điện thoại có tên đăng ký là chị Cao Thị Kim N - sinh năm 1975, hộ khẩu thường trú: Cao Xá -Lâm Thao - Phú Thọ. Chị N khẳng định không đăng ký sử dụng số điện thoại trên và cũng không cho ai mượn chứng minh nhân dân để đăng ký chủ thuê bao số điện thoại trên nên cơ quan điều tra không đủ căn cứ xử lý đối với chị N.

Số điện 0779302421, Nguyễn Anh T sử dụng, Cơ quan điều tra công an thành phố V xác minh đăng ký chủ thuê bao là ông Vương Công M- sinh năm 1958, hộ khẩu thường trú: Khu 9, Gia Cẩm, V, Phú Thọ. Nguyễn Anh T khai nhận đây là số điện thoại T thường sử dụng để liên lạc hàng ngày và T mua thời gian đã lâu do những người bầy bán quảng cáo sim điện thoại tại chợ V - P - Phú Thọ bán và khi đó người bán không yêu cầu đăng ký chủ thuê bao.

Chiếc xe mô tô YAMAHA Sirius, biển kiểm soát: 19R1- 2013 là của chị Nguyễn Thị H - sinh năm 1983, hộ khẩu thường trú: khu 3, xã V, huyện P, tỉnh Phú Thọ, chị H là vợ T có đơn đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra trả xe cho chị vì việc T tự lấy xe để sử dụng vận chuyển pháo chị H không biết. Ngày 03/01/2019, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Nguyễn Thị Hiền.

01 điện thoại nhãn hiệu NokiA C1-01, số imei: 353262057203324 đã qua sử dụng, có số thuê bao 0779302421 là của Nguyễn Anh T sử dụng để liên lạc trao đổi mua bán pháo nổ cần tiếp tục tạm giữ để giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về điều kiện kinh tế của bị can: Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định Nguyễn Anh T ngoài những đồ dùng sinh hoạt cá nhân không có sản gì có giá trị.

Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS-VT ngày 23 tháng 01 năm 2019, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V truy tố: Bị cáo Nguyễn Anh T về tội "Buôn bán hàng cấm" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội "Buôn bán hàng cấm".

Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Nguyễn Anh T từ 15 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Bị cáo được trừ 03 ngày tam giữ (từ ngày 28/11/2018 đến ngày 01/12/2018)

* Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.

Về xử lý vật chứng của vụ án và án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Trước khi hội đồng xét xử vào phòng xử án bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Viện kiểm sát nhân dân thành phố V, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Anh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay đều thống nhất, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 19 giờ 30 ngày 28/11/2018 tại đường Hùng Vương thuộc khu 1A, Phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Anh T đã thực hiện hành vi vận chuyển trái phép 7,4kg pháo (có đầy đủ đặc tính của pháo nổ, có chứa thuốc pháo, khi đốt có gây tiếng nổ), mục đích để bán kiếm lời nhưng chưa kịp bán thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi nêu trên của Nguyễn Anh T đã phạm vào tội "Buôn bán hàng cấm". Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

"1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 232, 234, 244, 246, 248, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của Bộ luật này, thì bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)...

c) ..., buôn bán pháo nổ từ 06 kilôgam đến dưới 40 kilôgam;”.

[3] Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là lỗi cố ý, có tính chất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hoá mà Nhà nước cấm lưu thông là pháo nổ, bị cáo buôn bán pháo nổ nhằm mục đích thu lợi bất chính, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào tuy nhiên bị cáo T có nhân thân xấu là đã 01 lần bị xử phạt 24 tháng tù về “ Tội tàng trữ trái phép chất ma túy" và 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo T đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do vậy khi lượng hình cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội tuy nhiên bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên khi quyết định Hội đồng xét xử xem xét đến tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội nhưng vẫn cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh và tại phiên tòa hôm nay, xét thấy bị cáo là người lao động tự do không có tài sản riêng gì nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo T.

[6] Về vật chứng của vụ án:

- Đối với số lượng pháo nổ cơ quan điều tra đã thu của T là vật nhà nước cấm sản xuất, buôn bán, vì vậy cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu NokiA C1-01, số imei: 353262057203324 đã thu giữ của bị cáo T, là phương tiện bị cáo sử dụng để liên lạc buôn bán pháo nổ, cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 sim số 0779302421 đã thu giữ của bị cáo T là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe mô tô YAMAHA Sirius, biển kiểm soát: 19R1- 2013 không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo T: Cần trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị Hiền là hợp pháp.

Đánh giá về những vấn đề khác:

Về nguồn gốc pháo nổ: Đối với người nam thành niên bán pháo nổ cho T ngày 27/11/2018 do trời tối, T không nhìn rõ đặc điểm và T không biết tên, không hỏi tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan cảnh sát điều tra không xác định được người đã bán pháo nổ cho T là phù hợp.

[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì những lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 điều 106; khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Anh T phạm tội "Buôn bán hàng cấm".

Xử phạt: Nguyễn Anh T 15(Mười lăm) tháng tù. Bị cáo được trừ 03 ngày tam giữ (từ ngày 28/11/2018 đến ngày 01/12/2018). Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sụng đối với bị cáo T.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu tiêu hủy: 04 khối hình hộp, vỏ ngoài bọc giấy màu, bên trong khối hộp gồm 36 vật hình trụ vỏ giấy được liên kết với nhau có khối lượng 06 kg đựng trong 01 thùng bìa cát tông được niêm phong bằng dấu của phòng giám định kỹ thuật pháp lý - Viện khoa học hình sự và 01 sim số 0779302421 của T.

- Tịch thu sung quỹ nhà nước của bị cáo T: 01 điện thoại nhãn hiệu NokiA C1- 01 màu đen đã cũ, số imei: 353262057203324.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 01 năm 2019).

- Xác nhận Cơ quan điều tra Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ đã trả lại 01 chiếc xe mô tô YAMAHA Sirius, biển kiểm soát: 19R1- 2013 cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị H - sinh năm 1983, hộ khẩu thường trú: khu 3, xã V, huyện P, tỉnh Phú Thọ.

(Theo biên bản trao trả tài sản ngày 04 tháng 01 năm 2019).

* Về án phí: Bị cáo Nguyễn Anh T bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.


59
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2019/HSST ngày 26/02/2019 về tội buôn bán hàng cấm

Số hiệu:23/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Việt Trì - Phú Thọ
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 26/02/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về