Bản án 23/2018/HS-ST ngày 24/01/2018 về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG NHÉ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

BẢN ÁN 23/2018/HS-ST NGÀY 24/01/2018 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 24 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 23/2017/TLST-HS ngày 19/12/2017 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2018/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 01 năm 2018 đối với bị cáo:

Vàng Thị G (Tên gọi khác: Vàng Thị S); Sinh năm 1952 tại huyện Q, tỉnh Sơn La; Nơi cư trú: Bản H, xã Ch, huyện M, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hoá: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vàng A S và bà Ma Thị V; Có chồng là Cứ A D và có 01 con trên 18 tuổi; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 18/9/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên xử phạt 28 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Bị bắt tạm giữ từ ngày 08/10/2017 đến ngày 11/10/2017, tạm giam từ ngày 11/10/2017 đến nay, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Pờ Go Loòng – Luật sư, cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.

- Người phiên dịch: Anh Thào A Vừ - SN 1986; Có mặt.

Trú tại: Bản Nà Pán, xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ ngày 07 tháng 10 năm 2017 Vàng Thị G đi bộ từ nhà ở bản H, xã Ch, huyện M, tỉnh Điện Biên lên bản Nậm Là 1, xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến bản Nậm Là, G gặp và mua được 01 gói thuốc phiện của một người đàn ông dân tộc Mông (G không biết tên, tuổi, địa chỉ) với giá tiền là 800.000đồng. Mục đích G mua thuốc phiện là để mang về sử dụng cho bản thân vì nghiện ma túy. Sau khi mua được thuốc phiện, G cất vào trong túi vải đeo trên người rồi quay về. Đến 13 giờ ngày 08/10/2017 G về tới đầu bản Nậm Là thì bị tổ công tác Công an huyện Mường Nhé phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án gồm 01 gói thuốc phiện và 01 túi vải màu đen.

Ngày 09/10/2017 Cơ quan CSĐT Công an huyện Mường Nhé cùng với Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé tiến hành mở niêm phong, xác định trọng lượng, lấy mẫu giám định và ra quyết định trưng cầu giám định. Tại bản kết luận giám định số 37/GĐ-PC54 ngày 29/10/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất dẻo màu nâu đen gửi giám định của Vàng Thị G là thuốc phiện; Trọng lượng thuốc phiện thu giữ của Vàng Thị G là 114,24 gam.

Bản cáo trạng số: 03/QĐ-VKS-HS ngày 19/12/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé đã truy tố Vàng Thị G để xét xử về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội thay đổi quan điểm truy tố bị cáo từ tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999 sang tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41 của Quốc hội, xử phạt bị cáo Vàng Thị G từ 18 đến 24 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS năm 2015 đối với bị cáo; Tịch thu tiêu hủy vật chứng vụ án và miễn án phí cho bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với truy tố của Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản áp dụng, tình tiết giảm nhẹ, án phí và xử lý vật chứng. Nhưng về hình phạt, đề nghị HĐXX xem xét hoàn cảnh, nhân thân của bị cáo, bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bố, mẹ đã chết, chồng đi tù, tuổi đã cao, đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù.

Tại phiên tòa, bị cáo Vàng Thị G thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, nhất trí với luận cứ bào chữa của luật sư và không có ý kiến bổ sung gì thêm. Bị cáo chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo với lý do gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường Nhé, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quạn tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng đã có đủ cơ sở để khẳng định: Ngày 08/10/2017 Vàng Thị G đang cất giấu trái phép 114,24 gam thuốc phiện trên người tại khu vực bản Nậm Là 1, xã Mường Nhé, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên thì bị phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án là hoàn toàn đúng sự thật. Hành vi tàng trữ trái phép 114,24 gam thuốc phiện nhằm mục đích để sử dụng của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội và hình phạt được quy định tại tại điểm b khoản 1 Điều 249 BLHS. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Nhé thay đổi quan điểm truy tố bị cáo từ tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 194 BLHS năm 1999 sang tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 là đúng quy định của pháp luật bời lẽ theo hướng dẫn tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41 của Quốc hội cũng như khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015 thì cần áp dụng theo hướng có lợi cho người phạm tội.

Xét về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Đây là vụ án nghiêm trọng về ma túy, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Song chỉ vì muốn có ma túy để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây những tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, gây mất trật tự trị an, cản trở tới việc thực hiện các chính sách kinh tế, làm gia tăng các tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do vậy cần xử lý bị cáo có mức hình phạt thỏa đáng phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé xử phạt 28 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy; năm 2014 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương sinh sống, bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân để tu trí làm ăn mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội để phải đứng trước phiên tòa  hôm nay. Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đó là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tại phiên tòa hôm nay luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo từ 12 đến 18 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người có nhân thân xấu, năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên xử phạt 28 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Năm 2014 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương sinh sống, bị cáo không chịu tu trí làm ăn, sửa chữa lỗi lầm mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó cần xử phạt bị cáo mức cao hơn 12 tháng tù để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm.

Xét hoàn cảnh kinh tế gia đình của bị cáo còn nhiều khó khăn, thuộc diện hộ nghèo. Do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 điều 249 BLHS đối với bị cáo.

Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được người này là ai? Ở đâu, do đó không có cơ sở để xử lý.

[3] Về xử lý vật chứng: Đối với 102,13 gam thuốc phiện còn lại sau giám định, cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc túi vải cũ màu đen, là công cụ để bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, xét thấy đã hết giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[4] Về án phí: Xét thấy bị cáo thuộc diện hộ nghèo, theo Giấy chứng hộ nghèo năm 2017 do UBND xã Ch cấp, đồng thời là đồng bào dân tộc thiểu số, thường trú ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và đã có đơn đề nghị miễn án phí. Do đó cần miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Vàng Thị G (tên gọi khác: Vàng Thị S) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội: Xử phạt bị cáo Vàng Thị G 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 08/10/2017.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu huỷ 102,13 gam thuốc phiện và 01 chiếc túi vải cũ màu đen, là vật chứng vụ án Vàng Thị G. Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/12/2017 giữa Công an huyện Mường Nhé và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường Nhé.

3. Về án phí: Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm,thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vàng Thị G.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


61
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về