Bản án 23/2018/HS-ST ngày 14/05/2018 về tội trốn khỏi nơi giam

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 23/2018/HS-ST NGÀY 14/05/2018 VỀ TỘI TRỐN KHỎI NƠI GIAM

Ngày 14 tháng 5 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Lương xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2018/TLST-HS, ngày 02 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2018/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2018, đối với bị cáo: Đàm Văn D, sinh ngày 25/8/1993.

Nơi đăng ký HKTT: Thôn C, xã V, huyện N, tỉnh B; nghề nghiệp: Không nghề nghiệp (là phạm nhân đang cải tạo tại Trại giam Phú Sơn 4, Tổng cục VIII, BCA); trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đàm Văn S, sinh năm 1972 và bà Hoàng Thị K, sinh năm 1973; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: Tại bản án số 20/2017/HSST ngày 26/9/2017, bị TAND huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt 07 năm tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam Phú Sơn 4, Tổng cục VIII, BCA. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

1. Nông Văn T, sinh năm 1980, địa chỉ: Xã L, huyện T1, tỉnh C1 – Là phạm nhân đang cải tạo tại phân trại số 5, Trại giam Phú Sơn 4, Tổng cục VIII, Bộ Công an (Vắng mặt).

2. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985, địa chỉ: Xã V1, huyện Đ1, TP. H – Là phạm nhân đang cải tạo tại phân trại số 5, Trại giam Phú Sơn 4, Tổng cục VIII, Bộ Công an (Vắng mặt).

3. Trần Văn K1, sinh năm 1973, địa chỉ: Xã T1, TP. H1, tỉnh H1 – Là cán bộ quản giáo tại Phân trại số 5, Trại giam Phú Sơn 4, Tổng cục VIII, Bộ Công an (Vắng mặt).

4. Phùng Văn C2, sinh năm 1973, địa chỉ: Xã P, huyện T2, tỉnh P1 - Là cán bộ quản giáo tại Phân trại số 5, Trại giam Phú Sơn 4, Tổng cục VIII, Bộ Công an (Vắng mặt).

5. Trần Đại N1, sinh năm 1995, địa chỉ: Huyện L1, tỉnh B1 - Là cán bộ quản giáo tại Phân trại số 5, Trại giam Phú Sơn 4, Tổng cục VIII, Bộ Công an (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đàm Văn D là phạm nhân đang chấp hành án phạt tù theo Bản án số 20/2017/HSST ngày 26/9/2017 của TAND huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn tại đội 6, phân trại số 5, Trại giam Phú Sơn 4 (Đóng trên địa bàn xã Yên Đổ, huyện Phú Lương). Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 15/01/2018, sau khi được cán bộ mở cửa buồng giam, khu giam để chuẩn bị cho các phạm nhân ra lao động, lợi dụng sự sơ hở của cán bộ phụ trách, trước khi điểm danh, điểm diện và phân công lao động, D đã lẻn ra khỏi cổng khu giam, đi qua khu vực xưởng đóng than và bãi đất rồi trốn lên đồi cây (cách khu giam giữ khoảng 300m, cách điểm gần nhất của khu vực phạm nhân được phép hoạt động lao động là 120m), ẩn náu trong bụi rậm, chờ cơ hội tiếp tục trốn chạy.

Sau khi phát hiện D bỏ trốn, đơn vị đã báo động, tổ chức truy bắt đồng thời báo cáo Trại giam Phú Sơn 4 ra quyết định truy nã số 01 ngày 15/01/2018. Đến 19 giờ cùng ngày, do bị truy bắt gắt gao, biết không thể trốn thoát được, D đã ra đầu thú.

Tại bản cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 02/4/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương đã truy tố bị cáo Đàm Văn D về tội “Trốn khỏi nơi giam” theo khoản 1 Điều 386 Bộ luật hình sự 2015.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Đàm Văn D phạm tội “Trốn khỏi nơi giam”.

Đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 386; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56 BLHS.

Xử phạt: Đàm Văn D từ 09 đến 12 tháng tù giam.

Đề nghị tổng hợp phần hình phạt còn lại của bản án số 20/HSST/2017 ngày 26/9/2017 của TAND huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn bị cáo chưa chấp hành với hình phạt trong bản án này.

Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật. Ý kiến của bị cáo: Không có ý kiến tranh luận gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo cải tạo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan điều tra Công an huyện Phú Lương, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xác nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như. Do vậy, đã đủ cơ sở để xác định: Do có ý định trốn khỏi nơi giam từ trước, khoảng 06 giờ 30 phút ngày 15/01/2018 tại đội 6, phân trại số 5, Trại giam Phú Sơn 4, đóng trên địa bàn xóm Thượng, xã Yên Đổ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, lợi dụng sự sơ hở của cán bộ quản giáo, Đàm Văn D đã trốn khỏi nơi giam, chạy đến đồi cây cách khu giam 300m ẩn náu, đến 19 giờ cùng ngày, biết không thể trốn thoát, D đã ra đầu thú.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ tạm giam, cải tạo phạm nhân, đồng thời xâm phạm đến hoạt động bình thường của Trại giam. Bị cáo đã được học nội quy của Trại giam, bị cáo hoàn toàn biết được việc di chuyển khỏi khu vực lao động, tách khỏi sự quản lý của các cán bộ của Trại giam khi đang lao động là hành vi vi phạm nội quy của trại giam nhưng bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trốn khỏi nơi giam”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 386 Bộ luật hình sự 2015.

“1. Người nào đang bị tạm giữ, tạm giam, áp giải, xét xử hoặc chấp hành án phạt tù mà bỏ trốn, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.” Như vậy, Cáo trạng số 17/CT-VKSPL ngày 02 tháng 4 năm 2018 của VKSND huyện Phú Lương truy tố đối với bị cáo Đàm Văn D về tội “Trốn khỏi nơi giam” là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét các yếu tố về nhân thân của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có nhân thân xấu, bản thân đang phải chấp hành án tại Trại giam nhưng bị cáo không tích cực cải tạo, sửa chữa để tiến bộ mà tiếp tục phạm tội mới, thể hiện ý thức coi thường pháp luật.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, do vậy bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS 2015 là người phạm tội thành khẩn khai báo. Ngoài ra, khi phạm tội bị cáo ra đầu thú nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tai khoản 2 Điều 51 BLHS 2015. Bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 là tái phạm.

[5] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy cần phải có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời răn đe giáo dục phòng ngừa chung.

[6] Bị cáo đang chấp hành bản án số 20/HSST/2017 ngày 26/9/2017 của TAND huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn xử phạt bị cáo 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ 05/5/2017. Tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới (ngày 15/01/2018), bị cáo đã chấp hành được 08 tháng 10 ngày. Bị cáo phải chấp hành tiếp 06 năm 03 tháng 20 ngày. Cần áp dụng khoản 2 Điều 56 BLHS 2015, tổng hợp với hình phạt còn lại của bản án số 20/HSST/2017 ngày 26/9/2017 của TAND huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn bị cáo chưa chấp hành với hình phạt trong bản án này, buộc bị cáo chấp hành chính phạt chung của cả hai bản án.

[7] Vật chứng của vụ án: Không có.

[8] Về án phí: Cần buộc bị cáo chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[9] Trong vụ án còn có Trần Văn K1, là cảnh sát bảo vệ Đội 6, phân trại số 5, Trại giam Phú Sơn 4 có hành vi thiếu trách nhiệm để Đàm Văn D trốn, tuy nhiên, hành vi của K1 chưa đến mức độ phải xử lý hình sự, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Lương đề nghị Trại giam Phú Sơn 4 xem xét kỷ luật theo quy định của ngành công an là phù hợp.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà về hình phạt cũng như các vấn đề khác là phù hợp nên cần được chấp nhận.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 386, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 56 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 ; Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên bố: Bị cáo Đàm Văn D phạm tội “Trốn khỏi nơi giam”.

1. Về hình phạt: Xử phạt Đàm Văn D 09 (chín) tháng tù giam. Tổng hợp hình phạt còn lại của bản án số 20/HSST/2017 ngày 26/9/2017 của TAND huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn bị cáo chưa chấp hành là 06 năm 03 tháng 20 ngày, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 07 (bảy) năm 20 (hai mươi) ngày. Thời hạn tù tính từ ngày 16/01/2018.

2. Án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.


69
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2018/HS-ST ngày 14/05/2018 về tội trốn khỏi nơi giam

Số hiệu:23/2018/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phú Lương - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 14/05/2018
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về