Bản án 23/2018/HNGĐ-ST ngày 25/06/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 23/2018/HNGĐ-ST NGÀY 25/06/2018 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 25 tháng 6 năm 2018, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyệnViệt Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:37/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2018 về tranh chấp Hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2018/QĐXX-ST ngày 06 tháng 6 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 1992. Có mặt. HKTT: Thôn M, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

Nơi ở: Xóm T, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1989. Đề nghị xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn M, xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay thể hiện nội dung vụ án như sau:

Nguyên đơn chị Lê Thị H trình bày: Chị H và anh Nguyễn Văn L kết hôn vớinhau trên cơ sở tự nguyện, khi cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, huyện V, sau ngày cưới vợ chồng chung sống với nhau ngay, quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến tháng 12/2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do không có con chung, khi xảy ra mâu thuẫn đã được gia đình và chính quyền địa phương hòa giải, nhưng vì không có con nên hai vợ chồng sống không được hạnh phúc, nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị H đề nghị được ly hôn anh L.

Con chung: chưa có.

Tài sản, công nợ, ruộng canh tác không có vướng mắc gì. Sau khi ly hôn không yêu cầu toà án giải quyết.

Bị đơn Anh Nguyễn Văn L trình bày: Anh Lâm và chị H tìm hiểu nhau được hơn 1 năm thì kết hôn, khi cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã H, sau khi cưới vợ chồng chung sống với nhau cùng gia đình được khoảng 3 năm thì ra ở riêng, ban đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc về sau nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ nhiều vấn đề. Do vợ chồng chậm có con, do không hợp nhau trong cuộc sống và bất đồng quan điểm làm ăn. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 9/2017 cho đến nay, từ khi vợ chồng sống ly thân hai bên không quan hệ và liên lạc gì với nhau. Nay anh L xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị H xin ly hôn anh L nhất trí.

Con chung: chưa có.

Tài sản, công nợ, ruộng canh tác không có vướng mắc gì. Sau khi ly hôn không yêu cầu toà án giải quyết.

Ngoài ra anh L trình bày: Anh L đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập của tòa án, nhưng anh L phải đi làm Công ty không xin nghỉ được và anh Lâm có đơn đề nghị tòa án giải quyết vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V tham gia phiên tòa nhận xét quá trình tiến hành tố tụng, xét xử vụ án, Tòa án và Hội đồng xét xử thực hiện đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, người tham gia tố tụng có ý thức chấp hành pháp luật. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ vào các Điều 51; 56 - Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147;khoản 1 Điều 227; Điều 271 và 273 - Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí;

Xử:

-Quan hệ vợ chồng: Xử cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn L.

-Chị Lê Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa anh Nguyễn Văn L là bị đơn trong vụ án vắng mặt lần thứ nhất, nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. HĐXX quyết định xét xử vắng mặt anh L theo quy định tại khoản 1 Điều 227 – Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Chị Lê Thị H và anh Nguyễn Văn L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 14/10/2013 tại UBND xã H, huyện V, tỉnh Bắc Giang được xác nhận là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị H thấy: chị H và anh L kết hôn với nhau đã có thời gian chung sống hạnh phúc trong quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị H và anh L trình bày là do vợ chồng chậm có con, ngoài ra anh L trình bày ngoài việc vợ chồng chậm có con còn có một số mâu thuẫn khác như vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong việc làm ăn và vợ chồng nhiều lần giận nhau, vợ chồng sống ly thân từ khoảng tháng 9/2017 cho đến nay. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập nhiều lần để tiến hành hòa giải giữa chị Hg và anh L để vợ chồng về đoàn tụ nhưng anh L không đến làm việc, anh L có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt, vì vậy Tòa án không tiến hành hòa giải giữa hai bên được, đồng thời chị H và anh L đều không có nguyện vọng đoàn tụ chung sống. Nay chị H xin ly hôn, anh L nhất trí chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được cần xử cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn L.

Con chung: Chị H và anh L đều trình bày vợ chồng chưa có con chung.

Về tài sản chung: Chị H và anh L không yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 4 Điều 147;khoản 1 Điều 277; Điều 271 và 273 - Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 51, 56 - Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí;

Xử:

-Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn L.

-Án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000đ chị H đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 04871 ngày05/3/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Việt Yên. (Xác nhận chị H đã nộp đủ án phí).

Báo cho đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Báo cho đương sự vắng mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.


56
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2018/HNGĐ-ST ngày 25/06/2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:23/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Việt Yên - Bắc Giang
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:25/06/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về