Bản án 23/2018/HNGĐ-ST ngày 24/04/2018 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

BẢN ÁN 23/2018/HNGĐ-ST NGÀY 24/04/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Vào lúc 08 giờ 00 phút, ngày 24 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý 05/2018/TLST-HNGĐ ngày 02/01/2018 về tranh chấp“Ly hôn”.Theo Quyết định  đưa vụ án ra xét xử số: 31/QĐXX-ST ngày 21/3/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Ngô Thị N, sinh năm: 1990;

Trú tại: thôn P, xã H, huyện Đ, Phú Yên.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1986; Trú tại: khu phố H, phường P, thành phố T, Phú Yên. Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn ngày 28/12/2017 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Ngô Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị (N) và anh Nguyễn Thanh H tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên vào ngày 27/02/2015. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn, do anh H thường xuyên cờ bạc, nợ nần, chị khuyên bảo nhiều lần không được. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 8/2017 đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Nay thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin được ly hôn.

Về con chung: có 01 con chung là Nguyễn An N, sinh ngày 01/10/2015. Hiện con đang ở với chị. Ly hôn chị xin nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: không có nên không yêu cầu giải quyết.Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt nên không có lời khai và không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật; bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn và nuôi con chung của nguyên đơn, về tài sản chung: không xem xét; về án phí nguyên đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Thanh H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Ngô Thị N và bị đơn anh Nguyễn Thanh H tự nguyện tìm hiểu và đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên theo Giấy chứng nhận kết hôn số 12/2015, vào ngày 27/02/2015 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn như đương sự trình bày; vợ chồng đã không còn chung sống từ tháng 8/2017 cho đến nay. Xét thấy: Chị N và anh H không còn chung sống với nhau từ tháng 8/2017 cho đến nay, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Bị đơn anh H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa để giải quyết là bỏ mặc, không muốn hàn gắn cuộc sống hôn nhân. Mâu thuẫn của vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được ly hôn với bị đơn.

[4] Về con chung: Có 01 con chung là Nguyễn An N, sinh ngày 01/10/2015. Hiện đang do nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn nguyên đơn xin được nuôi con và không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên chấp nhận. Giao con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôidưỡng. Bị đơn không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà  không ai được cản trở.

[5] Về tài sản chung: Không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

[6] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự

Tuyên xử:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Ngô Thị N được ly hôn anh Nguyễn Thanh H.

- Về con chung: Giao 01 con chung là Nguyễn An N, sinh ngày 01/10/2015cho nguyên đơn chị Ngô Thị N trực tiếp nuôi dưỡng.

Bị đơn anh Nguyễn Thanh H không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về tài sản chung: không xem xét.

Về án phí:

Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Nguyên đơn chị Ngô Thị N phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0009810 ngày 02/01/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tuy Hòa.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


58
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2018/HNGĐ-ST ngày 24/04/2018 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:23/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Tuy Hòa - Phú Yên
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:24/04/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về