Bản án 23/2017/HNGĐ-ST ngày 14/07/2017 về kiện xin ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B - QUẢNG BÌNH

BẢN ÁN 23/2017HNGĐ-ST NGÀY 14/07/2017 VỀ KIỆN XIN LY HÔN

Ngày 14 tháng 7 năm 2017, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 137/2017/TLST - HNGĐ ngày 19/6/2017 về việc “Kiện xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 19/2017/QĐXX - ST ngày 28/6/2017. Giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Ngọ Thị C, sinh năm: 1988.

Nơi ĐKNKTT: Thôn R, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình. Hiện trú tại: Thôn P, xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang.

Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm: 1985.

Nơi ĐKNKTT: Thôn R, xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình.

Hiện trú tại: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Các đương sự vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn xin ly hôn ngày 19/6/2017 (bút lục số 01) và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án (bút lục số 06, 16, 21), nguyên đơn chị Ngọ Thị C trình bày: Chị và anh Phạm Văn T kết hôn vào ngày 04/3/2010 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi kết hôn anh chị về sinh sống tại xã V, huyện B, tỉnh Quảng Bình, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được 05 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn: Do bất đồng quan điểm sống, anh T thường uống rượu về nhà xúc phạm chị C nên tháng 6/2015 chị C bỏ về quê tại xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang sinh sống cùng bố mẹ chị C. Kể từ đó anh chị sống ly thân không còn quan tâm gì đến nhau. Nay chị thấy cuộc sống chung không tồn tại, hạnh phúc không có và tình cảm cũng không còn nên chị C làm đơn xin được ly hôn anh Phạm Văn T.

Về con chung, tài sản và công nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn lựa chọn Tòa án giải quyết (bút lục số 06), đơn trình bày (bút lục số 14) và đơn xin xử vắng mặt (bút lục 15) anh Phạm Văn T trình bày: Anh và chị Ngọ Thị C kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 04/3/2010 tại UBND xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn do thường xuyên bất đồng quan điểm không thể hòa hợp được do đó anh chị đã sống ly thân từ tháng 6/2015 cho đến nay không quan tâm gì đến nhau nữa. Hiện tình cảm vợ chồng không còn nên anh T đồng ý ly hôn.

Về con chung, tài sản và công nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Bình đã thụ lý vụ án theo yêu cầu của chị Ngọ Thị C và triệu tập anh chị đến Tòa án để tiến hành giải quyết vụ án vào ngày 28/6/2017, chị C có mặt, anh T vắng mặt nhưng anh T đã có đơn trình bày do đó Tòa án không tiến hành hòa giải được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả xét xử tại phiên toà hôm nay, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về tố tụng: Chị Ngọ Thị C có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân huyện Bố Trạch giải quyết vụ án xin ly hôn giữa chị và anh Phạm Văn T, anh T và chị C thống nhất chọn Tòa án nhân dân huyện B giải quyết vụ án. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Quảng Bình. Tại phiên tòa hôm nay chị Ngọ Thị C và anh Phạm Văn T vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt (BL: 15, 21). Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ngọ Thị C và anh Phạm Văn T kết hôn với nhau trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 04/3/2010 tại UBND xã Đ, huyện H, tỉnh Bắc Giang nên đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc được 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn: Chị C và anh T đều thừa nhận do thường xuyên bất đồng quan điểm sống không thể hòa hợp được nên anh chị sống ly thân từ tháng 6/2015 cho đến nay không quan tâm gì đến nhau. Xét thấy tình cảm vợ chồng đã hết, mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn được, đời sống chung không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Ngọ Thị C và anh Phạm Văn T là phù hợp.

Về con chung, tài sản và công nợ chung: Anh chị thừa nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí vụ kiện: Áp dụng Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Chị Ngọ Thị C phải nộp 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn. Anh Phạm Văn T không phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn.

Vì các lẻ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Ngọ Thị C và anh Phạm Văn T.

Về con chung: Không xem xét.

Về tài sản và nợ chung: Không xem xét.

Về án phí vụ kiện: Chị Ngọ Thị C phải nộp 300.000đ án phí sơ thẩm ly hôn và được trừ vào số tiền 300.000đ chị C đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Quảng Bình theo biên lai số 0002514 ngày 19/6/2017, chị C đã nộp đủ án phí vụ kiện. Anh Phạm Văn T không phải nộp án phí sơ thẩm ly hôn.

Án xử sơ thẩm, báo cho nguyên đơn và bị đơn biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại UBND xã nơi cư trú.


69
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2017/HNGĐ-ST ngày 14/07/2017 về kiện xin ly hôn

Số hiệu:23/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bố Trạch - Quảng Bình
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/07/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về