Bản án 23/2017/HNGĐ-ST ngày 08/09/2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, TỈNH VĨNH PHÚC

BẢN ÁN 23/2017/HNGĐ-ST NGÀY 08/09/2017 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 08 tháng 9 năm 2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 58/2017/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2017 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2017/QĐXX-ST ngày 03 tháng 8 năm 2017 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị Đ, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (Có mặt).

2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn D, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn B, xã B,huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 4 năm 2017 và những lời khai tiếp theo nguyên đơn là chị Lê Thị Đ trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Hoàng Văn D kết hôn với nhau ngày 21 tháng 9 năm 2015 trên cơ sở được tự do tìm hiểu, hoàn toàn tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T. Quá trình chung sống tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận thời gian ngắn sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do anh D thường xuyên chơi bời, rượu chè về đánh đập, chửi bới chị và anh D không quan tâm gì đến công việc và gia đình. Thời gian ngày 20 tháng 11 năm 2016 do chị đi làm về muôn nên chị về nhà mẹ đẻ chị ở, không về nhà. Ngày hôm sau chị về thì anh D đánh đập, chửi bới, đốt xe của chị nên chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở từ đó đến nay. Vợ chồng không còn quan tâm gì đến nhau. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và xin ly hôn anh D.

Về con chung, tài sản, công nợ, công sức: Chị xác định không có và không yêu cầu giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án anh Hoàng Văn D được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh D vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T đề nghị hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 55, Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

- Cho chị Lê Thị Đ ly hôn anh Hoàng Văn D.

- Chị Lê Thị Đ phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Đ và anh Hoàng Văn D kết hôn với nhau ngày 21 tháng 9 năm 2015, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T trên cơ sở được tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện. Đây là hôn nhân hợp pháp tiến bộ. Quá trình chung sống anh D thường xuyên chơi bời và thường xuyên đánh đập chị có lần chị Đ phải vào nhà trưởng thôn để tránh và nhiều lần anh D đánh đập chị Đ nên Công an xã B, huyện T phải vào giải quyết. Quá trình giải quyết việc chị Đ xin ly hôn, anh D biết việc chị Đ xin ly hôn nhưng anh D không quan tâm và bỏ mặc để chị Đ giải quyết. Thể hiện anh D cũng không còn quan tâm gì đến hạnh phúc gia đình và thể hiện tình trạng hôn nhân giữa chị Đ và anh D là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị Đ và cho chị Đ được ly hôn anh D là phù hợp.

[2] Về con chung: Chị Đ, anh D không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về tài sản, công nợ, công sức: Chị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết đồng thời quá trình giải quyết vụ án anh D vắng mặt không có lý do. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này mà sẽ xem xét giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

[4] Về án phí: Chị Lê Thị Đ phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Cho Lê Thị Đ ly hôn anh Hoàng Văn D.

[2] Về án phí: Chị Lê Thị Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0004703 ngày 12 tháng 4 năm 2017 của Chi cục thi hành án dân  sự huyện T. Chị Lê Thị Đ đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơthẩm.

[3] Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm.


66
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 23/2017/HNGĐ-ST ngày 08/09/2017 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:23/2017/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tam Dương - Vĩnh Phúc
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:08/09/2017
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về