Bản án 229/2019/HNGĐ-ST ngày 25/04/2019 về ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH

BẢN ÁN 229/2019/HNGĐ-ST NGÀY 25/04/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 25 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 132/2019/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Thu T, sinh năm 1994; đăng ký hộ khẩu: Số 227 đường H, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Số 69 đường H, phường P, thành phố N, tỉnh Nam Định; có mặt.

- Bị đơn: Anh Phạm Hồng A, sinh năm 1993; nơi cư trú cuối cùng: Số 227 đường H, phường V, thành phố N, tỉnh Nam Định (đã bị Tòa án tuyên bố mất tích).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện nộp ngày 14-3-2019, bản tự khai ngày 26-3-2019 và tại phiên tòa, nguyên đơn là chị Trần Thị Thu T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Phạm Hồng A có tổ chức lễ cưới, có đã đăng ký kết hôn ngày 03-11-2015 tại UBND phường V, thành phố N trên cơ sở tự nguyện. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống với nhau khoảng 2 tháng thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách vợ chồng không hợp nhau dẫn đến bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề trong cuộc sống. Từ thời điểm xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng đã sống ly thân, không quan tâm, không chăm sóc nhau. Anh A ở cùng với ông bà nội của anh A tại số nhà 227 H, phường V, thành phố N, còn chị về nhà bố mẹ đẻ chị sinh sống từ thời gian đó đến nay. Từ tháng 11 năm 2015, anh A bỏ đi khỏi địa phương. Trước khi đi anh A không nói với gia đình là đi đâu. Từ thời gian đó đến nay chị và gia đình không biết tin tức gì về anh A. Anh A cũng không liên lạc với gia đình. Chị đã yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự tuyên bố anh A mất tích theo quy định của pháp luật. Tòa án nhân dân thành phố Nam Định đã ra Quyết định tuyên bố anh Phạm Hồng A là người mất tích. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh A không còn tồn tại trên thực tế, vì vậy mục đích hôn nhân không đạt được. C hị đề nghị Toà án giải quyết cho chị ly hôn anh A.

- Về con chung: Chị và anh A có 01 con chung là Phạm Trần Bảo V (giới tính nữ), sinh ngày 08-10-2015. Hiện tại cháu V đang ở với chị. Sau khi ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu V. Về cấp dưỡng nuôi con, chị tự nguyện không đề nghị anh A phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về chia tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 02-4-2019, người làm chứng là ông Phạm Văn P (ông nội anh Phạm Hồng A) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Trần Thị Thu T và anh Phạm Hồng A, ông thống nhất như lời trình bày của chị T. Nay chị T có đơn yêu cầu ly hôn anh A ông đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Tại biên bản xác minh, thu thập chứng cứ ngày 04-04-2019, đại diện tổ dân phố nơi chị Trần Thị Thu T sinh sống cung cấp:

Năm 2015 chị Trần Thị Thu T có tổ chức lễ cưới sau đó mấy tháng chị T lại về chung sống với bố mẹ đẻ. Từ thời gian đó đến nay chị T và con gái chị sinh sống tại gia đình bố mẹ đẻ chị T; chồng chị T là anh Phạm Hồng A không đến nhà bố mẹ đẻ chị T nên địa phương không biết nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa vợ chồng chị T và anh A. Đại diện địa phương đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký phiên toà trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án: Đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, chị T đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Có đủ cơ sở chấp nhậ n yêu cầu khởi kiện của chị T. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: Xử ly hôn giữa chị Trần Thị Thu T và anh Phạm Hồng A; giao cháu Phạm Trần Bảo V, sinh ngày 08-10-2015 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con chung sau khi ly hôn. Về tài sản chung: không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Tòa án nhân dân thành phố Nam Định nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

Anh Phạm Hồng A là bị đơn đã có quyết định của Tòa án tuyên bố mất tích nên Hội đồng xét xử xử vắng mặt anh Phạm Hồng A.

[2]. Về quan hệ hôn nhân:

Hôn nhân giữa chị Trần Thị Thu T và anh Phạm Hồng A là hôn nhân hợp pháp. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến giữa năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính cách vợ chồng không hợp nhau dẫn đến bất đồng quan điểm về nhiều vấn để trong cuộc sống. Từ tháng 11-2015 anh A bỏ đi, gia đình không có tin tức gì. Chị Trần Thị Thu T đã có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Phạm Hồng A mất tích. Tại quyết định giải quyết việc dân sự số 15/2018/QĐDS- ST ngày 04-10-2018 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định tuyên bố anh Phạm Hồng A là người mất tích và quyết định này đã có hiệu lực pháp luật. Căn cứ khoản 2 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Trần Thị Thu T, xử cho ly hôn giữa chị Trần Thị Thu T và anh Phạm Hồng A.

[3]. Về con chung:

Chị Trần Thị Thu T và anh Phạm Hồng A có 01 con chung là Phạm Trần Bảo Vy, sinh ngày 08-10-2015. Anh A là người mất tích. Hiện nay chị T đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Vy. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu, Hội đồng xét xử giao cháu Phạm Trần Bảo Vy cho chị Trần Thị Thu T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của chị T không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con chung.

[4]. Về chia tài sản:

Chị Trần Thị Thu T không yêu cầu Tòa án giải quyết .

[5]. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Trần Thị Thu T là nguyên đơn trong vụ án phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 2 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014;

- Căn cứ Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa chị Trần Thị Thu T và anh Phạm Hồng A.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Trần Bảo Vy (giới tính: Nữ), sinh ngày 08-10-2015 cho chị Trần Thị Thu T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị Thu T không yêu cầu anh Phạm Hồng A cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Phạm Hồng A có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Trần Thị Thu T phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Số tiền này được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp tại biên lai số 0000600 ngày 14-3-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nam Định.

4. Chị Trần Thị Thu T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Phạm Hồng A được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


80
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 229/2019/HNGĐ-ST ngày 25/04/2019 về ly hôn

Số hiệu:229/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nam Định - Nam Định
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:25/04/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về