Bản án 226/2019/HNGĐ-ST ngày 30/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH

BẢN ÁN 226/2019/HNGĐ-ST NGÀY 30/09/2019 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON KHI LY HÔN

Ngày 30 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 160/2019/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 7 năm 2019, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1306/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Hà Thị Cẩm N , sinh năm 1984; cư trú tại thôn C T , xã M T , huyện P M , tỉnh Bình Định; có mặt.

- Bị đơn: Anh Võ Bá D , sinh năm 1982; cư trú tại thôn T H , xã M T , huyện P M , tỉnh Bình Định; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 08 tháng 7 năm 2019, tại lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Hà Thị Cẩm N trình bày: Chị và chồng của chị là anh Võ Bá D đăng ký kết hôn vào ngày 03 tháng 3 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã M T , huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Trước khi kết hôn, giữa chị và anh Võ Bá D tìm hiểu một thời gian rồi tự nguyện đăng ký kết hôn chứ không ai ép buộc, lừa dối. Sau khi kết hôn vợ chồng của chị sống chung với nhau tại nhà cha, mẹ của chị và vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 06 năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc vợ chồng của chị có quá nhiều bất đồng quan điểm sống; thường xuyên xảy ra kình cãi với nhau. Vì mâu thuẫn trên và tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên tháng 06 năm 2016 anh Võ Bá D đã bỏ về nhà cha, mẹ của anh Võ Bá Dương ở cho đến nay. Chị và anh Võ Bá D không có bất kỳ biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng; không ai quan tâm đến ai. Nay quan hệ hôn nhân của vợ chồng chị đã mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm gì với nhau, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Võ Bá D .

Trong thời gian chung sống vợ chồng của chị có một người con chung là cháu Võ Hà Hoàng C , sinh ngày 18 tháng 12 năm 2015; hiện nay chị đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Nếu Tòa án cho chị được ly hôn với anh Võ Bá D , chị yêu cầu Tòa án giao con chung cho chị trực tiếp nuôi dưỡng, chị không yêu cầu anh Võ Bá D cấp dưỡng nuôi con.

Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung của vợ chồng. Hiện nay vợ chồng của chị không phải thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản đối với ai khác nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra chị không trình bày và yêu cầu gì thêm.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đã tiến hành tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ cho bị đơn anh Võ Bá D tham gia tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng anh Võ Bá D cũng không có mặt tại phiên tòa lần thứ hai mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Đối với Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Hà Thị Cẩm N , cho chị Hà Thị Cẩm N được ly hôn với anh Võ Bá D ; giao con chung của chị Hà Thị Cẩm N và anh Võ Bá D là cháu Võ Hà Hoàng C , sinh ngày 18 tháng 12 năm 2015 cho chị Hà Thị Cẩm N trực tiếp nuôi dưỡng; chị Hà Thị Cẩm N không yêu cầu anh Võ Bá D cấp dưỡng nuôi con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Chị Hà Thị Cẩm N không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản; anh Võ Bá D cũng không có ý kiến, yêu cầu gì nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Buộc nguyên đơn chị Hà Thị Cẩm N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Các tài liệu, chứng cứ do các đương sự giao nộp gồm: Giấy Chứng nhận kết hôn số 07/2015, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân xã Mỹ Trinh, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định chứng nhận ngày 03 tháng 3 năm 2015 (Bản chính); Trích lục khai sinh của cháu Võ Hà Hoàng C , sinh ngày 18 tháng 12 năm 2015 (Bản sao); Giấy chứng minh nhân dân của chị Hà Thị Cẩm N (Bản photocoppy); Sổ hộ khẩu của hộ gia đình chị Hà Thị Cẩm N (Bản photocoppy).

Nguyên đơn chị Hà Thị Cẩm N và bị đơn anh Võ Bá D đăng ký kết hôn vào ngày 03 tháng 3 năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã Mỹ Trinh, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Chị Hà Thị Cẩm N yêu cầu ly hôn với anh Võ Bá D , yêu cầu giao con chung là cháu Võ Hà Hoàng C , sinh ngày 18 tháng 12 năm 2015 cho chị Hà Thị Cẩm N trực tiếp nuôi dưỡng; chị Hà Thị Cẩm N không yêu cầu anh Võ Bá D cấp dưỡng nuôi con. Chị Hà Thị Cẩm N không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản. Anh Võ Bá D không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; không tham gia tố tụng tại phiên tòa mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án là tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại thời điểm thụ lý vụ án và hiện nay anh Võ Bá D cư trú tại thôn Trung Hội, xã Mỹ Trinh, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Võ Bá D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt mà không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn anh Võ Bá D .

[3] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị Cẩm N và anh Võ Bá D đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã Mỹ Trinh, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định chứng nhận theo Giấy chứng nhận kết hôn số 07/2015, quyển số 01/2014 ngày 03 tháng 3 năm 2015. Việc kết hôn giữa chị Hà Thị Cẩm N và anh Võ Bá D tuân theo các điều kiện quy định tại Điều 8 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên hôn nhân giữa chị Hà Thị Cẩm N và anh Võ Bá D là hợp pháp. Chị Hà Thị Cẩm N yêu cầu ly hôn với anh Võ Bá D vì cho rằng sau khi kết hôn vợ chồng của chị sống chung với nhau tại nhà cha, mẹ của chị và vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 06 năm 2016 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn xuất phát từ việc vợ chồng của chị có quá nhiều bất đồng quan điểm sống; thường xuyên xảy ra kình cãi với nhau. Vì mâu thuẫn trên và tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nên tháng 06 năm 2016 anh Võ Bá D đã bỏ về nhà cha, mẹ của anh Võ Bá D ở cho đến nay. Chị Hà Thị Cẩm N và anh Võ Bá D không có bất kỳ biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng; không ai quan tâm đến ai. Tòa án thu thập các tài liệu, chứng cứ xác định nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị Hà Thị Cẩm N và anh Võ Bá D để tiến hành hòa giải nhằm mục đích hàn gắn tình cảm vợ chồng chị Hà Thị Cẩm N , anh Võ Bá D nhưng anh Võ Bá D không đến Tòa án để tham gia hòa giải và tại phiên tòa hôm nay anh Võ Bá D tiếp tục vắng mặt. Do đó có căn cứ chứng minh hôn nhân giữa chị Hà Thị Cẩm N và anh Võ Bá D đã lâm vào trình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên theo quy định tại các điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét cho chị Hà Thị Cẩm N được ly hôn với anh Võ Bá D .

Về con chung: Chị Hà Thị Cẩm N yêu cầu giao con chung là cháu Võ Hà Hoàng C , sinh ngày 18 tháng 12 năm 2015 cho chị trực tiếp nuôi dưỡng; chị Hà Thị Cẩm N không yêu cầu anh Võ Bá D cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, chị Hà Thị Cẩm N là người đang trực tiếp nuôi con chung; anh Võ Bá D không ý kiến gì đối với yêu cầu trên của chị Hà Thị Cẩm N . Để bảo đảm quyền lợi mọi mặt của cháu Võ Hà Hoàng C theo quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên giao cháu Võ Hà Hoàng Châu cho chị Hà Thị Cẩm N trực tiếp trông nôm, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Chị Hà Thị Cẩm N không yêu cầu anh Võ Bá D cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét. Anh Võ Bá D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng anh Võ Bá D không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Hà Thị Cẩm N . Khi cần thiết anh Võ Bá D và chị Hà Thị Cẩm N đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại các điều 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng: Chị Hà Thị Cẩm N không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản. Anh Võ Bá D không có ý kiến, yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc nguyên đơn chị Hà Thị Cẩm N phải chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà chị Hà Thị Cẩm N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0000864 ngày 12 tháng 7 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm c khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Hà Thị Cẩm N .

1. Về quan hệ hôn nhân:

Cho chị Hà Thị Cẩm N ly hôn với anh Võ Bá D .

Quan hệ hôn nhân giữa chị Hà Thị Cẩm N và anh Võ Bá D theo Giấy chứng nhận kết hôn số 07/2015, quyển số 01/2014 do Ủy ban nhân dân xã M T , huyện P M , tỉnh Bình Định chứng nhận ngày 03 tháng 3 năm 2015 chấm dứt kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung:

Giao con chung của chị Hà Thị Cẩm N và anh Võ Bá D là cháu Võ Hà Hoàng C , sinh ngày 18 tháng 12 năm 2015 cho chị Hà Thị Cẩm N trực tiếp trông nôm, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng; hiện nay chị Hà Thị Cẩm N đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Võ Hà Hoàng C . Chị Hà Thị Cẩm N không yêu cầu anh Võ Bá D cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

Anh Võ Bá D có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, nhưng anh Võ Bá D không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của chị Hà Thị Cẩm N . Khi cần thiết chị Hà Thị Cẩm N và anh Võ Bá D đều có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại các điều 84, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

3. Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng: Chị Hà Thị Cẩm N không tranh chấp về việc chia tài sản chung, nghĩa vụ về tài sản chung của vợ chồng và yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ về tài sản. Anh Võ Bá D không có ý kiến, yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Hà Thị Cẩm N phải chịu số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn để sung vào công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà chị Hà Thị Cẩm N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án 0000864 ngày 12 tháng 7 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định.

5. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 30 tháng 9 năm 2019). Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

132
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 226/2019/HNGĐ-ST ngày 30/09/2019 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

Số hiệu:226/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phù Mỹ - Bình Định
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 30/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về