Bản án 224/2019/HS-ST ngày 21/11/2019 về trộm cắp tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

BẢN ÁN 224/2019/HS-ST NGÀY 21/11/2019 VỀ TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 21 tháng 11 năm 2019 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 222/2019/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 238/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2019, đối với:

Bị cáo: Phạm Thị Hồng Đ, sinh năm 1992 tại Nam Định. Hộ khẩu thường trú: 282 đường B, phường D, thành phố T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở hiện nay: 04 đường T, phường N, thành phố T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: kế toán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Phạm Quốc T, mẹ: Nguyễn Thị Kim D; Chồng: Nguyễn Tiến H, con: có 01 con sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo tại ngoại. (có mặt)

Bị hại: Ông Đỗ Văn T, sinh năm 1971. Địa chỉ: A đường P, phường T, thành phố T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Võ Hoàng S, sinh năm 1982.

Địa chỉ: 1001/15 G, phường D, thành phố T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

 Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Thị Hồng Đ là nhân viên kế toán của tiệm vàng N, địa chỉ: A đường P, phường T, thành phố T do ông Đỗ Văn T làm chủ. Khoảng 09 giờ 00 ngày 05- 6-2019, lợi dụng sơ hở của chủ tiệm vàng, Đ đã lén lút lấy 01 chiếc lắc vàng 18K, khối lượng 2,73 chỉ vàng cất giấu trong túi xách. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Đ mang đến tiệm vàng T, địa chỉ: 1001/15 Bình giã, phường D, thành phố T do ông Võ Hoàng S làm chủ bán được 9.720.000đ.

Do chiếc lắc vàng có ký hiệu của tiệm vàng Kim Phát Đại Nam nên ông S nghi ngờ và báo cho ông T biết, qua kiểm tra xác định lắc vàng là của tiệm mình nên ông T đã báo cơ quan chức năng xử lý. Tại Cơ quan điều tra, Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên. Đối với chiếc lắc vàng, ông T đã đưa ông S 10.000.000đ để nhận lại chiếc lắc và Cơ quan điều tra đã thu hồi của Đ 9.720.000đ giao trả cho ông T.

Ông Tặng khai sau vụ việc xảy ra, đã tiến hành kiểm tra tài sản phát hiện bị mất số vàng tương đương 600.000.000đ. Tuy nhiên ông T không cung cấp được chứng cứ và không xác định được thời gian, nguồn gốc, loại tài sản bị mất nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý bị cáo về hành vi này.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 107/KL-HĐĐG-TTHS ngày 12-7-2019 của Hội đồng định giá Ủy ban nhân dân thành phố T kết luận chiếc lắc vàng trị giá 9.937.000đ.

Bản cáo trạng số 238/CT-VKSTPVT ngày 05-11-2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T truy tố bị cáo Phạm Thị Hồng Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, do hoàn cảnh khó khăn, chồng đã bỏ địa phương đi đâu không biết, hiện đang một mình nuôi con nhỏ sinh năm 2016 nên xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo để có điều kiện đi làm và nuôi con.

- Bị hại ông Đỗ Văn T đề nghị xử lý bị cáo đúng người, đúng tội, ngoài ra không yêu cầu gì khác.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Võ Hoàng S không có ý kiến, yêu cầu gì trong vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Phạm Thị Hồng Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù; Về trách nhiệm dân sự: đã giải quyết xong.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên toà, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có cơ sở xác định: Khoảng 09 giờ 00 ngày 05/6/2019, tại tiệm vàng N, địa chỉ: A đường P, phường T, thành phố T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, do ông Đỗ Văn T làm chủ, bị cáo Phạm Thị Hồng Đ đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của ông T 01 chiếc lắc vàng trị giá 9.937.000đ (Chín triệu, chín trăm ba mươi bảy ngàn đồng). Do đó, có đủ căn cứ kết luận hành vi của Phạm Thị Hồng Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3] Xét thấy, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo đã lợi dụng sơ hở và tin tưởng của bị hại để lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Tuy nhiên, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tài sản đã thu hồi giao trả cho bị hại nên gây thiệt hại không lớn; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, bản thân đang một mình nuôi con nhỏ có xác nhận của chính quyền địa phương nên căn cứ điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Xét bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, hiện đang một mình nuôi con nhỏ. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo mà xử phạt tù cho hưởng án treo giao về chính quyền địa phương quản lý giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách đủ tác dụng giáo dục.

[6] Trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

[7] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo về phần tội danh và mức hình phạt áp dụng là có căn cứ phù hợp với các tình tiết của vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm, hoàn cảnh khó, đang nuôi con nhỏ, xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo đủ tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thị Hồng Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự:

Xử phạt: Phạm Thị Hồng Đ 06 (Sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tính từ ngày tuyên án 21-11-2019.

Giao bị cáo Phạm Thị Hồng Đ cho Ủy ban nhân dân phường N, thành phố T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách;

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

3. Trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

4. Án phí: Bị cáo Phạm Thị Hồng Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.


44
Bản án/Quyết định được xét lại
     
    Văn bản được dẫn chiếu
    Văn bản được căn cứ
    Bản án/Quyết định đang xem

    Bản án 224/2019/HS-ST ngày 21/11/2019 về trộm cắp tài sản

    Số hiệu:224/2019/HS-ST
    Cấp xét xử:Sơ thẩm
    Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Vũng Tàu - Bà Rịa - Vũng Tàu
    Lĩnh vực:Hình sự
    Ngày ban hành:21/11/2019
    Là nguồn của án lệ
      Bản án/Quyết định sơ thẩm
        Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về