Bản án 22/2020/HNGĐ-ST ngày 19/08/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 22/2020/HNGĐ-ST NGÀY 19/08/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 19 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 33/2020/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 09/7/2020 và quyết định hoãn phiên tòa số 21/2020/QĐST-HNGĐ ngày 30/7/2020, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Thúy K, sinh năm 1989. (có mặt) Địa chỉ: Khu phố 3, Phường 3, thị xã KT, tỉnh Long An.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985. (vắng mặt) Địa chỉ: Khu phố 1, Phường 3, thị xã KT, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và phần trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn bà Trần Thị Thúy K thể hiện:

Bà K và ông Nguyễn Văn Đ tự nguyện tìm hiểu và tiến đến hôn nhân, hai bên có đăng ký kết hôn ngày 06/01/2017 tại Ủy ban nhân dân Phường 3, thị xã Kiến Tường. Quá trình chung sống hai bên thường phát sinh mâu thuẫn, do ông Đ thường uống rượu say về la mắng và dọa đánh bà K. Trước đây bà K có nộp đơn ly hôn nhưng do ông Đ hứa sẽ thay đổi nên bà K rút đơn khởi kiện, nay mâu thuẫn giữa hai bên vẫn không hàn gắn được, ông Đ vẫn quậy phá đập đồ đạc gia đình. Nay bà K yêu cầu được ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Quá trình chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Văn Quốc Khánh, sinh năm 2017, hiện đang do bà trực tiếp chăm sóc. Theo đơn khởi kiện bà K yêu cầu được giao con cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng, bà K không phải cấp dưỡng. Tuy nhiên nay xét thấy tình hình ông Đ không có khả năng nuôi con nên bà K yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng.

Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có, không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ vắng mặt và không có ý kiến trình bày.

Tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ do đương sự cung cấp gồm: Giấy chứng nhận kết hôn; Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hôn nhân số 07/2018/QĐST-HNGĐ ngày 15/3/2018 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường giữa bà K và ông Đ; Bản sao giấy khai sinh con chung; Bản tự khai của bà K có xác nhận của địa phương về mâu thuẫn vợ chồng; Đơn xác nhận nơi cư trú.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án dược thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Trần Thị Thúy K nộp đơn khởi kiện ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ có địa chỉ cư trú tại Phường 3, thị xã KT nên căn cứ vào Điều 28; điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là tranh chấp về ly hôn, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Trần Thị Thúy K có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải, bị đơn ông Đ vắng mặt nên căn cứ Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án trên thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được. Do đó Tòa án chỉ tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ.

Về việc giải quyết vắng mặt đương sự: Bị đơn là ông Đ đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân: Căn cứ phần trình bày của đương sự và tài liệu chứng cứ mà đương sự cung cấp thể hiện bà K và ông Đ tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 3, thị xã KT nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình. Bà K yêu cầu ly hôn vì cho rằng vợ chồng có nhiều mâu thuẫn, không hạnh phúc, ông Đ thường xuyên uống rượu say và đe dọa đánh đập bà. Bị đơn ông Đ vắng mặt trong quá trình hòa giải và tại phiên tòa, không có ý kiến trình bày, như vậy chứng tỏ ông Đ không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Qua đó cho thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà K và ông Đ là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân của các bên không đạt được, nên căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà K.

Về con chung: Bà K và ông Đ có 01 con chung tên Nguyễn Văn Quốc Khánh, sinh ngày 05/9/2017, bà K yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng. Xét thấy con chung hiện đang do bà K trực tiếp nuôi dưỡng, bị đơn vắng mặt và không có ý kiến trình bày. Căn cứ vào các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân gia đình, để đảm bảo sự ổn định về tâm lý và phát triển bình thường của con chung, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của bà K cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Về cấp dưỡng do bà K không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà K trình bày vợ chồng không có, không yêu cầu giải quyết. Bị đơn ông Đ vắng mặt và không có ý kiến trình bày. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, sau này các đương sự có tranh chấp thì có quyền khởi kiện thành vụ kiện khác.

[4] Về án phí: Nguyên đơn bà Trần Thị Thúy K phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 207, 227, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự:

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Trần Thị Thúy K.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Thúy K được ly hôn với ông Nguyễn Văn Đ.

Về con chung: Bà Trần Thị Thúy K được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Văn Quốc Khánh, sinh ngày 05/9/2017, giới tính: Nam. Ông Nguyễn Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Văn Đ có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con chung mà không ai được quyền cản trở. Trường hợp ông Đ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung thì bà Trần Thị Thúy K có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con theo quy định của pháp luật. Bà Trần Thị Thúy K cùng các thành viên trong gia đình không được quyền cản trở ông Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Khi thấy cần thiết, trên cơ sở lợi ích của con chung thì bà K, ông Đ, cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Bà Trần Thị Thúy K phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng mà bà K đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009266 ngày 28/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Kiến Tường. Bà Trần Thị Thúy K đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Bà Trần Thị Thúy K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 của Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 9 của Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.


17
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 22/2020/HNGĐ-ST ngày 19/08/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:22/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị Xã Kiến Tường - Long An
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành:19/08/2020
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về