Bản án 22/2019/HS-ST ngày 23/05/2019 về tội vận chuyển hàng cấm

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ, TỈNH LONG AN

BẢN ÁN 22/2019/HS-ST NGÀY 23/05/2019 VỀ TỘI VẬN CHUYỂN HÀNG CẤM

Ngày 23 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Đức Huệ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2019/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2019/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Hunh Văn B - Sinh năm 1990, tại: Long An; nơi cư trú: Khu phố 2, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn T, sinh năm: 1971 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1970; Bị cáo chưa có vợ và con; tiền án, tiền sự: Không; Bị bắt tam giữ tam giam từ ngày 18/11/2018 cho đến nay. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan đến vụ án:

1. Ông Trần Công T1 - Sinh năm 1966 - Địa chỉ: 95 Trịnh Đình T2, phường P, quận P, thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt không lý do)

2. Ông Nguyễn Quốc K - Sinh năm 1993 - Địa chỉ: Ấp 6, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An. (Vắng mặt không lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 18/11/2018, Công an huyện Đức Huệ tổ chức tuần tra chống buôn lậu trên tuyến đường tỉnh 838 thuộc ấp 1, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An phát hiện đối tượng vận chuyển thuốc lá ngoại nhập lậu bằng xe ô tô. Lực lượng tiến hành chốt chặn bắt quả tang đối tượng Huỳnh Văn B cùng với tang vật là 15.000 bao thuốc lá ngoại nhập lậu (9.000 bao thuốc lá nhãn hiệu Jet, 6.000 bao thuốc lá nhãn hiệu Hero) cùng với phương tiện vận chuyển là xe ô tô con biển kiểm soát 51F-117.69 nhãn hiệu TOYOTA, loại FORTUNER, màu bạc. Công an huyện Đức Huệ tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang tạm giữ đối tượng cùng với toàn bộ tang vật, phương tiện đưa về trụ sở Công an huyện Đức Huệ để tiếp tục điều tra làm rõ.

Tang vật tạm giữ:

- 01 (một) xe ô tô con, nhãn hiệu: TOYOTA, loại xe: FORTUNER, màu sơn: bạc, biển số: 51F-117.69, số máy: 2KDU707514, số khung: 69G8F4021844.

- 15.000 (Mười lăm nghìn) bao thuốc lá ngoại các loại 9.000 bao loại Jet, 6.000 bao nhãn hiễu Hero.

Qua trình điều tra B khai nhận: Do có thỏa thuận từ trước nên vào khoảng 17 giờ ngày 18/11/2018 có Nguyễn Quốc K (tên thường gọi là Mọi) nhà ở ấp 6, xã M, huyện Đ, tỉnh Long An gọi đến B qua số điện thoại là 0977550541, B không nhớ số điện thoại của K, K kêu B điều khiển xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA loại FORTUNER màu bạc biển kiểm soát 51F-117.69 mà K đã giao cho B ngày 15/11/2018 đến khu Miểu thuộc ấp 6, xã Q, huyện Đ, tỉnh Long An để nhận thuốc lá ngoại của bà năm Thắm nhà ở ấp 4, xã Q, huyện Đ, tỉnh Long An xuống giao ở khu vực Cầu Lớn thuộc xã P, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh, B đồng ý. Sau đó B điện thoại cho H nhà ở ấp 4, xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An nói đi làm, H đồng ý. B điều khiển xe ô tô 51F-117.69 đến ngã ba ông Đường thuộc ấp 4, xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An để rước H. B chở H đến khu vực Miểu thuộc ấp 6, xã Q theo sự chỉ dẫn của K. Khi đến địa điểm trên thì có một nhóm khoảng 08 người điều khiển xe gắn máy chở 25 đai (15.000) bao thuốc lá ngoại chất lên xe ô tô của B điều khiển. Sau khi chất thuốc xong, B điều khiển xe ô tô chở H đi Cầu Lớn thuộc xã P, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh để giao thuốc lá ngoại. Trên đường B vận chuyển số thuốc lá ngoại nói trên đến đoạn đường 838 thuộc ấp 1, Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang cùng với toàn bộ tang vật và phương tiện, riêng H đi chung với B thì chạy thoát.

Ngoài ra, B còn khai nhận: vào ngày 16/11/2018 cũng với cách thức như trên, B đã vận chuyển trót lọt cho K 9.000 bao thuốc lá ngoại các loại từ khu vực Miểu thuộc ấp 6, xã Q, huyện Đ về đến khu vực Cầu Lớn, xã P, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh giao. Những người nhận thuốc lá ngoại là những thanh niên B chưa từng quen biết, cũng không biết địa chỉ ở đâu. Mỗi lần vận chuyển như vậy tiền công của B là 1.500.000 đồng, cả 02 lần vận chuyển K đều chưa trả tiền công cho B thì bị bắt.

Quá trình điều tra bị cáo Huỳnh Văn B đã thừa nhận toàn bộ nội dung phạm tội như trên.

Xử lý tang vật của cơ quan cảnh sát điều tra: 01 (một) xe ô tô con, nhãn hiệu: TOYOTA, loại xe: FORTUNER , màu sơn: bạc, biển số: 51F-117.69, số máy: 2KDU707514, số khung: 69G8F4021844. Qua xác minh được biết, người đứng tên trong giấy tờ xe là ông Trần Công T1, xe ô tô trên ông T1 mua trả góp tại ngân hàng Eximbank Chi nhánh quận 6, thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 01/11/2018, ông T1 có cho Nguyễn Hoàng H1, sinh năm: 1995, địa chỉ: ấp 3, xã Tân Nghĩa, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp thuê xe ô tô 51F-117.69, thời gian thuê là 03 tháng từ 01/11/2018 đến 01/02/2019 với giá là 17.000.000 đồng/tháng, hai bên có làm hợp đồng thuê. Vào ngày 01/11/2018, Nguyễn Hoàng H1 cho Lê Quốc T4, sinh năm: 1998, địa chỉ: ấp 4, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp thuê lại xe ô tô 51F-117.69 để kiếm lời thời gian thuê là 03 tháng từ 01/11/2018 đến 01/02/2019 với giá là 20.000.000 đồng/tháng. Tiếp tục vào ngày 15/11/2018, Lê Quốc N cho Nguyễn Quốc K thuê lại xe ô tô 51F-117.69, thời gian thuê là 01 tháng từ 15/11/2018 đến 14/12/2018 với giá 25.000.000 đồng/tháng. Xét thấy không ảnh hưởng đến các hoạt động điều tra tiếp theo, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Huệ đã trả lại cho chủ sỡ hữu là ông Trần Công T1, theo quyết định xử lý vật chứng số 19 ngày 27/02/2019 của cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Đức Huệ. Sau khi nhận lại xe ô tô, ông T1 không có yêu cầu gì khác nên không đề cập.

Đi với Nguyễn Quốc K (M) người mà B khai thuê B vận chuyển thuốc lá ngoại, qua làm việc K không thừa nhận việc thuê B để vận chuyển thuốc lá ngoại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Huệ đã tiến hành các biện pháp điều tra thu thập tài liệu nhưng không có kết quả.

Đi với Nguyễn Thị N (M) người mà B khai đã nhận thuốc lá ngoại, qua làm việc Nữ khai không quen biết B. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đức Huệ đã tiến hành các biện pháp điều tra thu thập tài liệu nhưng không có kết quả.

Đi với người thanh niên tên H đi cùng bị cáo B để vận chuyển thuốc lá ngoại thông qua lời khai của B không xác định được nhân thân, lai lịch của người này. Ngoài lời khai của B không có chứng cứ, tài liệu nào khác để truy tìm đối tượng nên không đề cập.

Nhng người giao, nhận thuốc lá ngoại cho B do không xác định được nhân thân, lai lịch, ngoài lời khai của B ra, không có chứng cứ, tài liệu nào khác nên không có đủ cơ sở chứng minh nên không đề cập.

Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang tạm giữ những vật chứng sau: 15.000 (Mười lăm nghìn) bao thuốc lá ngoại bao gồm 9.000 bao thuốc lá hiệu Jet, 6.000 bao thuốc lá nhãn hiệu Hero.

Cáo trạng số: 21/CT-VKS-ĐH ngày 29 tháng 3 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Huỳnh Văn B về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ sau khi phân tích tính chất của hành vi và hậu quả xảy ra, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn B phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.

Căn cứ: điểm b khoản 3 Điều 191, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 32, 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn B từ 05 năm đến 07 năm tù.

Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Phần Cơ quan điều tra đã xử lý xong không có yêu cầu xem xét lại nên không xem xét.

Đề nghị tịch thu giao cơ quan Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ xử lý: 15.000 bao thuốc lá ngoại (bao gồm 9.000 bao hiệu Jet, 6.000 bao nhãn hiệu Hero) do nước ngoài sản xuất không chứng hóa đơn xuất xứ hàng hóa, không xác định chủ sở hữu.

Ngưi có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan:

Ông Trần Công T1 vắng mặt tại phiên tòa trong lời khai trình bày có cho Nguyễn Hoàng H1 thuê xe và ông H1 cho người khác thuê lại, nhưng không biết việc bị cáo vận chuyển thuốc lá ngoại, ông T1 đã nhận lại xe không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập.

Ông Nguyễn Quốc K vắng mặt tại phiên tòa trong lời khai trình bày không có giao xe cho bị cáo để vận chuyển hàng cấm, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tn cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Vào ngày 18/11/2018 (khoảng 19 giờ), Huỳnh Văn B nhận lời vận chuyển thuê thuốc lá cho ngưới khác nên dùng xe 01 (một) xe ô tô con, nhãn hiệu: TOYOTA, loại xe: FORTUNER, màu sơn: bạc, biển số: 51F-117.69, số máy: 2KDU707514, số khung: 69G8F4021844 (do ông Trần Công T1 là chủ sở hữu), vận chuyển 15.000 bao thuốc ngoại (6.000 bao hiệu Hero và 9.000 bao hiệu Jet), từ khu vực ấp 6 (địa danh Xóm Miểu), xã Q, huyện Đ về Cầu Lớn xã P, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh không có chứng từ hóa đơn xuất xứ hàng hóa về số thuốc lá 15.000 bao với mục đích vận chuyển thuê ăn tiền công 1.500.000 đồng/chuyến (chưa nhận tiền). Khi bị cáo B vận chuyển số thuốc lá ngoại trên đến khu vực ấp 1, xã T, huyện Đ thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang người và tang vật.

[2] Các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của cơ quan cảnh sát điều tra, quyết định phê chuẩn quyết định khởi tố bị can và cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo điều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hành vi tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên điều thực hiện đúng và hợp pháp.

[3] Tại phiên toà, bị cáo Huỳnh Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản bắt người phạm tội quả tang do công an huyện Đức Huệ, tỉnh Long An lập lúc 19 giờ 30 phút, ngày 18/11/2018 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó đã có đủ bằng chứng để kết luận rằng bị cáo Huỳnh Văn B phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự 2015. Như vậy, cáo trạng số: 21/CT-VKS-ĐH ngày 29 tháng 3 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Huỳnh Văn B với tội danh và điều luật nêu trên là có cơ sở đúng theo quy định của pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo Huỳnh Văn B là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, bị cáo là người đã thành niên thực hiện với lỗi cố ý là do ham thu lợi nên từ đó bị cáo nhận lời vận chuyển hàng hóa thuốc lá ngoại không có chứng từ hóa đơn xuất xứ hàng hóa từ khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia (ấp 6, xã Q, huyện Đ) về huyện B, thành phố Hồ Chí Minh với số lượng 15.000 bao. Hành vi này của bị cáo Bình phải được xử lý nghiêm, xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa.

[4.1] Đối với lần vận chuyển thuốc lá ngoại ngày 16 tháng 11 năm 2018, không thu giữ được vật chứng (thuốc lá ngoại), ngoài lời khai của bị cáo Huỳnh Văn B ra, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, không đủ căn cứ buộc tội nên nên tính bị cáo phạm tội nhiều lần và buộc bị cáo nộp lại số tiền thu lợi bất chính.

[5] Xét thấy bị cáo Huỳnh Văn B trong quá trình truy tố và xét xử thật thà khai báo, bản thân chưa có tiền án tiền sự, mới vận chuyển thuê lần đầu, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo Huỳnh Văn B là có cơ sở theo quy định pháp luật.

[7] Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan:

Ông Trần Công T1 vắng mặt tại phiên tòa trong lời khai trình bày có cho ông Nguyễn Hoàng H1 thuê xe và ông H1 cho người khác thuê lại, nhưng không biết việc bị cáo vận chuyển thuốc lá ngoại. Ông T1 đã nhận lại xe không yêu cầu bị cáo bồi thường, do không yêu cầu nên không xem xét là phù hợp. Nếu sau này phát sinh yêu cầu bồi thường sẽ tách ra giải quyết bằng một vụ án khác.

Ông Nguyễn Quốc K vắng mặt tại phiên tòa trong lời khai trình bày không có giao xe cho bị cáo để vận chuyển hàng cấm, không yêu cầu bị cáo bồi thường, do không yêu cầu nên không xem xét là phù hợp.

[8] Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Phần cơ quan điều tra đã xử lý xong không có yêu cầu xem xét lại nên không xem xét - 15.000 bao thuốc lá ngoại (bao gồm 9.000 bao hiệu Jet, 6.000 bao nhãn hiệu Hero) do nước ngoài sản xuất không có chứng hóa đơn xuất xứ hàng hóa, không xác định chủ sở hữu. Theo quy định tại Quyết định số 20/2018/QĐ-TTg ngày 26/4/2018 của Chính phủ thì hiện nay tạm dừng tiêu hủy thuốc lá ngoại nhập lậu theo Quyết định số 2371/QĐ-TTg ngày 26/12/2014 nên tịch thu giao cho cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ xử lý theo quy định chung.

Đi với tiền thu lợi bất chính bị cáo chưa nhận tiền công vận chuyển 1.500.000 đồng/chuyến nên không đề cập thu hồi lại.

Tang vật hiện do chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý

[9] Đối với những người giới thiệu, người thuê bị cáo, người giao nhận thuốc cho bị cáo, cùng một số người khác mua hàng cấm không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ, không làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục thẩm tra, xác minh đề xuất xử lý sau, nên không đề cập xử lý trong vụ án này là phù hợp. Nhằm không bỏ lọt tội phạm, kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh để xử lý sau theo quy định của pháp luật.

[10] Bị cáo Huỳnh Văn B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: điểm b khoản 3 Điều 191, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 32, Điều 38 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 299, Điều 326 và Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn B phạm tội “vận chuyển hàng cấm”.

3. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn B 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/11/2018.

4. Về các biện pháp tư pháp:

- Tịch thu giao cơ quan Chi cục thi hành án dân huyện Đức Huệ sự xử lý 15.000 bao thuốc lá ngoại (9000 bao thuốc lá ngoại hiệu Jet và 6000 bao thuốc lá ngoại hiệu Hero) theo quy định hiện hành (quyết định số 20/2018/QĐ-TTg ngày 26/4/2018 của Chính phủ).

Tang vật hiện do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý.

5. Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Văn B phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước.

6. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 23/5/2019). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được hoặc niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


118
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về