Bản án 22/2019/HSST ngày 12/03/2019 về tội cướp tài sản

A ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 22/2019/HSST NGÀY 12/03/2019 VỀ TỘI CƯỚP TÀI SẢN

Ngày 12 tháng 3 năm 2019, trụ sở Toà án nhân dân quận Bình Thạnh tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2019/TLST-HS ngày 22/01/2019, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2019/HSST-QĐ ngày 25/02/2019 đối với bị cáo:

Phạm Thái T - Giới tính: Nam. Sinh năm: 1994 tại Đ. Nơi đăng ký HKTT: H đường B, ấp H, xã A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp (nơi cư trú: Như trên). Quốc tịch: Việt Nam – Dân tộc: Kinh – Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12 – Nghề nghiệp: Không. Họ tên cha: Phạm T. Họ tên mẹ: Dương M. Anh, chị, em: Có 03 người, bị can là người nhỏ nhất trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị M; Con: Nguyễn Phạm P; Tiền sự - Tiền án: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày: 11/9/2018. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

Người bị hại: Ông Lê Đ (Có mặt)

Địa chỉ: B đường A, khu phố M, phường A, quận Q, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 20 giờ 45 phút ngày 11/9/2018, do không tiền tiêu xài nên Phạm Thái T nảy sinh ý định gọi xe ôm chở đến nơi vắng vẻ để cướp tài sản bán lấy tiền tiêu xài, khi đi bộ đến trước nhà số B đường T, phường B, Quận C, T nhìn thấy anh Lê Đ chạy xe Grab mô tô Yamaha Sirius biển số 66S1-101.11 đang đứng gần đó nên đã gọi anh Đ chở T qua khu vực biệt thự H thuộc đường B, phường T, quận B. Khi anh Đ chở T đến khu biệt thự H, do nhìn thấy còn đông người qua lại, không thể thực hiện hành vi cướp tài sản được nên T kêu anh Đ chở T quay ngược lại để tìm nhà người quen. Khi đến trước nhà số N đường B, phường T, quận B thấy vắng người nên T nói anh Đ dừng xe lại, xuống xe giả vờ đi tìm nhà, T nhặt một thanh gỗ dài khoảng 15cm, dùng tay bẻ nhọn đầu rồi quay lại leo lên xe anh Đ, T lấy thanh gỗ nhọn đầu ấn vào lưng anh Đ rồi nói: “Kim đây, ngồi im” nhằm mục đích đe dọa để cướp tài sản, nhưng bị anh Đ vung tay phản kháng, hất tay ra phía sau và đánh lại làm T rớt thanh gỗ; lợi dụng lúc đó anh Đ bỏ chạy, tri hô: “Cướp! Cướp” lúc này có anh Nguyễn Văn C và anh Đoàn Ngọc H nghe tiếng tri hô nên chạy ra bắt giữ T cùng vật chứng là xe Sirius biển số 66S1-101.11 giao công an phường 28, quận Bình Thạnh lập hồ sơ xử lý.

Tại Cơ quan điều tra - Công an quận Bình Thạnh, Phạm Thái T đã khai nhận toàn bộ hành vi cướp tài sản của mình như trên.

Ngày 16/10/2018, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bình Thạnh có Thông báo số 205 kết luận: Một xe gắn máy hai bánh hiệu Yamaha Sirius, biển số 66S1-101.11, có giá trị là 08 triệu đồng (BL.42).

Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKSBTh ngày 21/01/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh đã truy tố bị cáo Phạm Thái T về tội “Cướp tài sản” theo điểm d, khoản 2, Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh thực hiện quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị:

- Tuyên bố bị cáo Phạm Thái T phạm tội “Cướp tài sản”; áp dụng điểm d, khoản 2, Điều 168; điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 05 – 06 năm tù.

- 01 thanh gỗ dài khoảng 15cm, nhọn 01 đầu, không thu hồi được;

- 01 xe mô tô Sirius biển số 66S1-101.11; Qua xác minh được biết chiếc xe trên do bà Võ Thị C, ngụ tại M lô F, KDC ấp P, xã T, S, tỉnh Đ là mẹ ruột của bị hại Lê Đ đứng tên đăng ký, cơ quan tiến hành xác minh nhưng bà C hiện đi đâu không rõ và chiếc xe này bà C giao cho con là ông Lê Đ sử dụng thường xuyên, nên đề nghị HĐXX tạm giao chiếc xe trên cho ông Đ, nếu sau này có tranh chấp đối với chiếc xe trên thì sẽ giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác.

- 01 nón kết bằng vải, màu đen, phía trước có logo hiệu “Nike” thu của T khi thực hiện hành vi tội phạm không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì nên đề nghị hội đồng xét xử không xem xét;

* Bị hại trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, không yêu cầu bị cáo bồi thường về phần dân sự, đối với chiếc xe mô tô Sirius biển số 66S1-101.11 do mẹ bị hại đứng tên và đưa cho bị hại để đi học nên đề nghị được nhận lại xe.

* Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu và không có ý kiến gì tranh luận với phần luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức việc làm của mình là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Bình Thạnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Tại cơ quan điều tra cũng như qua thẩm tra xét hỏi trước phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng thu được và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đúng như hành vi phạm tội mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra trước tòa. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Bị cáo là người đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, do không có tiền tiêu xài nên bị cáo đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác, vào khoảng 20 giờ 45 phút ngày 11/9/2018, Phạm Thái T gọi xe ôm Grab mang biển số 66S1-101.11 do anh Lê Đ điều khiển đến biệt thự H thuộc đường B, phường T, quận B; mục đích tìm nơi vắng để chiếm đoạt chiếc xe gắn máy của anh Đ. Khi đến số số N đường B, phường T, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo yêu cầu anh Đ dừng lại và xuống xe, sau đó bị cáo T nhặt thanh gỗ dài 15 cm bẻ nhọn đầu rồi lên xe dí đầu nhọn thanh gỗ vào lưng anh Đ và nói “Kim đây, ngồi im” mục đích đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc làm anh Đ không thể chống cự được nhằm cướp tài sản của anh Đ. Tuy nhiên, bị cáo T bị anh Đ phản kháng bỏ chạy đồng thời truy hô và được người dân hỗ trợ bắt bị cáo T, cho thấy bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội của mình và việc bị cáo chưa chiếm đoạt tài sản là ngoài ý muốn của bị cáo. Tài sản bị cáo chiếm đoạt là chiếc xe mô tô Sirius biển số 66S1-101.11, theo kết luận định giá có giá trị 8 triệu đồng. Với hành vi nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm tội “Cướp tài sản” tội phạm được quy định tại Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt được quy định tại điều 15 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 Bị cáo sử dụng thanh gỗ bẻ một đầu nhọn để uy hiếp bị hại, có thể gây nguy hiểm cho bị hại nên hành vi này của bị cáo thuộc trường hợp “Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặt thủ đoạn nguy hiểm” là tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

[3] Về động cơ, mục đích hành vi phạm tội của bị cáo: Chỉ vì cần tiền tiêu xài mà không phải lao động, bị cáo cố ý phạm tội, hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện tính xem thường pháp luật, gây nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự ở địa phương, hành vi bị cáo thực hiện có thể gây ra thiệt hại về tính mạng và sức khoẻ của người khác nên cần phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định.

[5] Về xử lý vật chứng :

- 01 xe mô tô Sirius biển số 66S1-101.11; Qua xác minh được biết chiếc xe trên do bà Võ Thị C, ngụ tại M lô F, KDC ấp P, xã T, S, tỉnh Đ là mẹ ruột của bị hại Lê Đ đứng tên đăng ký, cơ quan đã tiến hành xác minh nhưng hiện bà C đi đâu không rõ và chiếc xe trên bà C giao cho anh Đ sử dụng thường xuyên để đi học, đi làm nên Hội đồng xét xử chấp nhận trả chiếc xe trên cho anh Đ, nếu sau này có tranh chấp đối với chiếc xe trên thì sẽ giải quyết bằng một vụ kiện dân sự khác là phù hợp.

- 01 nón kết bằng vải, màu đen, phía trước có logo hiệu “Nike” thu của T không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[6] Về phần dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì thêm nên hội đồng xét xử không xem xét;

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Thái T phạm tội “Cướp tài sản”.

Áp dụng điểm d, khoản 2, Điều 168; Điều 57; điểm h, s, khoản 1 Điều 51; Điều 15 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Phạm Thái T 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/9/2018.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 45 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 nón kết bằng vải, màu đen, phía trước có logo hiệu “Nike”.

- Trả lại cho anh Lê Đ 01 xe mô tô Sirius biển số 66S1-101.11, số khung: RLCS3S310-6Y017598, số máy 3S31-017598, màu sơn đỏ, nhãn hiệu Yamaha, dung tích xi lanh: 110 (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/01/2019 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thạnh).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và Lệ phí; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) khoảng án phí hình sự sơ thẩm, nộp tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331 và 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Bị cáo và bị hại có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.


72
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 22/2019/HSST ngày 12/03/2019 về tội cướp tài sản

Số hiệu:22/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Bình Thạnh - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 12/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về