Bản án 22/2019/HNGĐ-ST ngày 28/03/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 22/2019/HNGĐ-ST NGÀY 28/03/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 28 tháng 3 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 06/2019/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2019 về việc ly hôn; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thúy M; cư trú tại: Đường T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H; cư trú tại: United States of America (Hoa  Kỳ).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn bà Lê Thị Thúy M, trình bày: 

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn H tự nguyện đăng ký kết hôn theo pháp luật Việt Nam; được Ủy ban nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 23-12-2016. Kết hôn được 20 ngày thì ông H trở về Hoa Kỳ còn bà thì vẫn ở Việt Nam; từ đó đến nay ông H chưa trở lại Việt Nam lần nào cũng như bà không thể qua Hoa Kỳ để gặp ông H. Mặt khác, ông bà cũng không thể hoàn tất thủ tục để bảo lãnh cho bà sang Hoa Kỳ chung sống. Trong thời gian sống xa cách thì bà và ông H cũng xác định là không còn tình cảm vợ chồng với nhau nữa nên nguyện vọng của bà là được ly hôn với ông H.

- Về con chung: Bà và ông Nguyễn Văn H không có con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà và ông Nguyễn Văn H không có tài sản chung và nợ chung.

Bị đơn ông Nguyễn Văn H, trình bày: Trong quá trình giải quyết vụ án thì ông Nguyễn Văn H gửi về cho Tòa án các văn bản ghi ngày 24-01-2019, có nội dung như sau:

- Tôi đã nhận được Thông báo về việc thụ lý vụ án của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng về việc bà Lê Thị Thúy M làm đơn xin ly hôn với tôi nên tôi làm đơn này xin trình bày ý kiến của mình như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Thống nhất các nội dung về đơn khởi kiện xin ly hôn giữa tôi và bà Lê Thị Thúy M. Lý do chủ yếu là bất đồng trong quan điểm xây dựng hạnh phúc gia đình, mâu thuẫn đôi bên ngày càng phức tạp và nghiêm trọng. Hiện tại hôn nhân của tôi và bà M chỉ tồn tại trên phương diện pháp lý. Do đó, quan điểm của tôi là đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của bà M.

- Về con chung: Ông và bà Lê Thị Thúy M không có con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Ông và bà Lê Thị Thúy M không có tài sản chung và nợ chung.

- Do công việc và cách trở về địa lý nên tôi không thể có mặt ở Tòa án theo yêu cầu của Tòa được, vì vậy tôi đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt tôi tại các phiên họp và phiên tòa để cho chúng tôi được ly hôn.

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Nguyên đơn bà Lê Thị Thúy M là công dân Việt Nam; có địa chỉ cư trú tại Đường T, phường T, quận T, thành phố Đà Nẵng, Việt Nam và bị đơn ông Nguyễn Văn H; quốc tịch: Hoa Kỳ; cư trú tại địa chỉ: United States of America (Hoa Kỳ), nên vụ án về ly hôn thuộc thẩm quyền chung của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, theo quy định tại các Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, Điều 464, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã gửi văn bản tố tụng của Tòa án cho bị đơn ông Nguyễn Văn H, theo đường dịch vụ bưu chính đến địa chỉ ông H cư trú, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 474 của Bộ luật tố tụng dân sự. Ngày 24-01-2019, ông H đã cung cấp đầy đủ lời khai, tài liệu, chứng cứ. Theo đó, ông H đề nghị Tòa án không mở phiên họp hòa giải do không thể về Việt Nam để tham dự; đồng thời đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt đối với ông, do đó Tòa án không mở phiên họp hòa giải và mở phiên tòa xét xử vắng mặt ông H, theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Xét yêu cầu xin ly hôn ông Nguyễn Văn H của bà Lê Thị Thúy M thì thấy, mâu thuẫn giữa ông bà bắt nguồn từ việc mỗi người sống một nơi, vợ chồng không thể sống gần nhau để yêu thương, chăm sóc cho nhau và cho gia đình, nên tình cảm vợ chồng ngày càng lạnh nhạt. Đến nay, ông bà đều tự xác định không còn tình cảm vợ chồng đối với nhau nữa, mục đích hôn nhân không đạt được do đó yêu cầu xin ly hôn ông H của bà M là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận.

[4] Về con chung; tài sản chung; nợ chung: Ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị Thúy M không có con chung; không có tài sản chung; không có nợ chung, nên Tòa án không đề cập giải quyết.

[5] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình bà Lê Thị Thúy M phải chịu, theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56, Điều 122, Điều 123, Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 37, điểm c khoản 1 Điều 40, Điều 147, Điều 464, Điều 469, khoản 1 và khoản 3 Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị Thúy M đối với ông Nguyễn Văn H.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thúy M được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.

2. Về án phí dân sự: Bà Lê Thị Thúy M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 001602 ngày 02 tháng 01 năm 2019 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng; bà M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Bà Lê Thị Thúy M có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông Nguyễn Văn H không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.


27
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 22/2019/HNGĐ-ST ngày 28/03/2019 về ly hôn

Số hiệu:22/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Đà Nẵng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 28/03/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về