Bản án 22/2019/HNGĐ-ST ngày 14/10/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN LẬP, TỈNH PHÚ THỌ

BẢN ÁN 22/2019/HNGĐ-ST NGÀY 14/10/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Trong ngày 14 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 178/TLST/HNGĐ ngày 07 tháng 8 năm 2019 về việc tranh chấp về Hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2019/QĐXXST ngày 12 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trần Văn Th, sinh năm 1969. Có mặt.

Trú quán: Khu Đình, thị trấn Yên Lập, huyện Yên Lập, tỈnh Phú Thọ.

Bị đơn: Chị Vũ Thị Kh, Sinh năm 1972. Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

ĐÞa chỉ: Khu Đình, thị trấn Yên Lập, huyện Yên Lập, tỈnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

 Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo tại Tòa án nguyên đơn Anh Trần Văn Th trình bày: Anh và chị Vũ Thị Kh tự nguyện kết hôn, có đăng ký kêt hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Yên Lập, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ ngày 19 tháng 9 năm 1989, sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thị trấn Yên Lập, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận hạnh phúc, sau đó xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân: Do nhiều mặt không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong làm ăn, sinh hoạt, vợ chông đã sống ly thân nhau, không còn quan tâm , tôn trọng yêu thương nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không khắc phục được nên vợ chồng đã cắt đứt mọi quan hệ. Nay anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn Chị Khđể ổn định cuộc sống.

Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng Chị Kh không đến tòa án, Tòa án phối hợp với chính quyền địa phương để tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của Pháp luật cho Chị Kh nhưng Chị Khkhông có mặt.

Về con chung: Anh Th trình bày vợ chồng có hai con chung là: Trần Xuân Tr, sinh ngày 23/5/1990 và Trần Trung K, sinh ngày 01/6/1992 . Các con đã trưởng thành, lao động tự túc được nên ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, công nợ, công sức: Anh Th không đề nghị Tòa án giải quyết. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của người tiến hành tố tụng, từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều thực hiện đúng quy định của Pháp luật; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng, đối với nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Pháp luật, bị đơn không có mặt tại phiên tòa hôm nay nhưng tòa án đã tiến hành các thủ tục niêm yết theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Kiểm sát viên có quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điều Khoản 1 Điều 56, 58 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 điều 147; điểm b khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử cho Anh Trần Văn Th được ly hôn chị Vũ Thị Kh. Về con chung: Con chung đã trưởng thành không đề nghị giải quyết, nên không xem xét. Các mối quan hệ khác về tài sản chung, công nợ, công sức đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét;

Anh Th phải chịu án phí theo quy định của Pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ và toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án. Tòa án đã gửi thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho anh Th Chị Khđể hòa giải nhưng Chị Khcố tình vắng mặt.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn Th và chị Vũ Thị Khtự nguyện kết hôn , có đăng ký kêt hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Yên Lập, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ ngày 19 tháng 9 năm 1989, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thị trấn Yên Lập, huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận hạnh phúc, sau đó xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân: Do nhiều mặt không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong làm ăn, sinh hoạt, vợ chông đã sống ly thân nhau, không còn quan tâm , tôn trọng yêu thương nhau. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn do mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không khắc phục được nên vợ chồng đã cắt đứt mọi quan hệ.

. Qua xác minh tại địa phương thì thấy tình trạng hôn nhân của vợ chồng như anh Th trình bày là đúng. Xét thấy: Tình cảm vợ chồng giữa anh Th và Chị Khkhông còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài; Việc anh Th xin được ly hôn Chị Khlà đúng với thực tế, có căn cứ và phù hợp với quy định của Pháp luật, nên chấp nhận, nên xử cho anh Th được ly hôn chị Khanh.

Tòa án triệu tập nhiều nhưng Chị Khcố tình vắng mặt không đến Tòa án để giải quyết tiếp vụ án . Như vậy Chị Khđã từ chối quyền lợi của bản thân, cố tình lẩn tránh gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án, nên vụ án phải được xét xử vắng mặt Chị Kh theo quy định của pháp luật.

Về con chung: Anh Th trình bày vợ chồng có hai con chung là: Trần Xuân Tr, sinh ngày 23/5/1990 và Trần Trung K, sinh ngày 01/6/1992 . Các con đã trưởng thành, lao động tự túc được, ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết, nên hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, công nợ, công sức: Anh Th không đề nghị Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không xem xét. Chị Khvắng mặt không có quan điểm đề nghị, nếu sau này Chị Kh có yêu cầu thì xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Anh Th phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 điều 147; Điểm b khoản 2 điều 227, 233 và điều 235 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Về quan hệ hôn nhân: Xử cho Anh Trần Văn Th được ly hôn chị Vũ Thị Kh.

2. Về án phí: Anh Trần Văn Th phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn. Xác nhận anh Th đã nộp tạm ứng 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số: A A/2018/ 0001128 ngày 07/ 8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Anh Th đã nộp đủ án phí.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Anh Trần Văn Th được quyền kháng cáo lên Tòa lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Báo cho chị Vũ Thị Khvắng mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết bản án tại UBND nơi cư trú.


29
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 22/2019/HNGĐ-ST ngày 14/10/2019 về tranh chấp hôn nhân gia đình

Số hiệu:22/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Yên Lập - Phú Thọ
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:14/10/2019
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về