Bản án 22/2019/HNGĐ-ST ngày 08/05/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

BẢN ÁN 22/2019/HNGĐ-ST NGÀY 08/05/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 08 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 33/2019/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2019/QĐXX-ST ngày 02 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Lệ H, sinh năm 1972, thường trú: Số nhà 127A/3, khu phố T, phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1967, thường trú: Số nhà 127A/3, khu phố T, phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương (vắng mặt không có lý do).

3. Người làm chứng:

Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1967, trú tại: 1151/2, Khu 8, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

Anh Nguyễn Minh Q, sinh ngày 24/12/1999, trú tại: Số nhà 127A/3, khu phố T, phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Võ Thị Lệ H trình bày:

Bà Võ Thị Lệ H và ông Nguyễn Thành T tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau năm 1990, đến ngày 21/3/2002 đăng ký kết hôn tại UBND phường P, T, tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 44.

Bà Võ Thị Lệ H xác định, sau khi kết hôn, ông T thỉnh thoảng uống rượu say về quậy phá, chửi cả nhà. Năm 1996, vợ chồng ra ở riêng, ông T vẫn không chăm lo kinh tế gia đình mà vẫn thường uống rượu, bà H khuyên thì ông Tài chửi bới, đập phá. Ông T càng ngày càng nghiện rượu, không giúp đỡ được gì cho vợ con, uống rượu say là mắng chửi, nhục mạ vợ thậm tệ không có lý do chính đáng và ngày nào cũng uống rượu, làm ảnh hưởng đến tâm lý vợ con và hàng xóm anh em. Bà H không thể nào chịu đựng được nữa nên yêu cầu Tòa giải quyết cho ly hôn.

Bà Võ Thị Lệ H và ông Nguyễn Thành T chung sống với nhau có 02 con chung là Nguyễn Thành L, sinh năm 1991 và Nguyễn Minh Q, sinh năm 1999. Các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Theo các biên bản lấy lời khai người làm chứng ngày 14/3/2019, bà Nguyễn Thị A và anh Nguyễn Minh Q trình bày:

Khoảng hơn 01 năm nay, ông T thường xuyên uống rượu say, chửi bới vợ con không có lý do, không có trách nhiệm với vợ con, từ trước đến nay không gần gũi con cái, mọi chi tiêu trong gia đình một mình bà H chăm lo.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ki n v việc tuân theo pháp lu t tố tụng trong quá trình giải quy t vụ án và nội dung giải quy t vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục được pháp luật quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng, đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Bị đơn không chấp hành đúng pháp luật tố tụng.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, nhận thấy quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông T không hàn gắn được, mâu thuẫn đã trầm trọng nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H được ly hôn với ông T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn, người làm chứng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt theo đúng quy định. Bị đơn đã được Tòa án thông báo, niêm yết triệu tập nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do và không cung cấp cho Tòa án chứng cứ, lời khai nào. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 228, khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Bà Võ Thị Lệ H và ông Nguyễn Thành T chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện vào năm 1990, đến năm 2002 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 44 ngày 21/3/2002 là hôn nhân hợp pháp.

Bà Võ Thị Lệ H xác định vợ chồng sống không hạnh phúc, do ông T không chăm lo cho gia đình, thường xuyên uống rượu say về nhà quậy phá, mắng chửi vợ con, nhục mạ bà H. Lời khai của bà H phù hợp với lời khai của người làm chứng và kết quả xác minh tại địa phương theo Biên bản xác minh ngày 30/01/2019. Xét thấy, quan hệ hôn nhân phải dựa trên nền tảng tình cảm vững chắc, sự tôn trọng, chăm sóc lẫn nhau, sự chung sức xây dựng gia đình của các bên nhưng quan hệ hôn nhân giữa ông T và bà H không đạt được các yếu tố trên, bởi lẽ ông T không chăm lo cho hôn nhân và gia đình mình mà thường xuyên uống rượu dẫn đến phá vỡ các mối quan hệ trong gia đình. Đồng thời, khi đối mặt với nguy cơ tan vỡ gia đình thông qua việc bà H nộp đơn ly hôn và ông T được Tòa án nhiều lần thông báo, triệu tập nhưng ông T không đến Tòa án làm việc, hòa giải và tham gia phiên tòa, điều này thể hiện rõ ông T không có thiện chí hòa giải đoàn tụ với bà H, xây dựng gia đình hạnh phúc. Do đó, bà H yêu cầu ly hôn với ông T là hoàn toàn có căn cứ nên được chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Bà Võ Thị Lệ H và ông Nguyễn Thành T chung sống với nhau có 02 con chung là Nguyễn Thành L, sinh năm 1991 và Nguyễn Minh Q, sinh năm 1999. Các con chung đã trưởng thành, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

[3] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, các khoản 1 và 3 Điều 228, khoản 2 Điều 229 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 51, 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Lệ H về việc Ly hôn với ông Nguyễn Thành T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Võ Thị Lệ H được ly hôn với ông Nguyễn Thành T.

Về con chung: Bà Võ Thị Lệ H và ông Nguyễn Thành T có 02 con chung là Nguyễn Thành L, sinh năm 1991 và Nguyễn Minh Q, sinh năm 1999. Các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Bà Võ Thị Lệ H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0024752 ngày 08/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.


30
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 22/2019/HNGĐ-ST ngày 08/05/2019 về ly hôn

Số hiệu:22/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thuận An - Bình Dương
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 08/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
 
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về