Bản án 22/2018/HNGĐ-ST ngày 06/09/2018 về tranh chấp ly hôn và nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ TÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

BẢN ÁN 22/2018/HNGĐ-ST NGÀY 06/09/2018 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ NUÔI CON

Ngày 06 tháng 9 năm 2018 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 59/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Đăng K, sinh năm 1979 (vắng mặt); Địa chỉ: ấp, xã Vĩnh Thuận Đ, huyện Long M, tỉnh Hậu G.

2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1979 (vắng mặt); Địa chỉ: ấp Phương H, xã Hưng P, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 4 năm 2018 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Nguyễn Đăng K trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh K và chị M được sự chấp thuận của gia đình tổ chức đám cưới vào năm 1999. Anh K và chị M tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hưng P, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc T và được cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 05/8/1999. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không còn quan tâm lẫn nhau.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh K và chi M có 01 con chung tên Nguyễn Phước N, sinh ngày 17/02/2002, hiện nay sống với chị M.

Anh Nguyễn Đăng K yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đăng K yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị M.

- Về con chung: Sau khi ly hôn anh K đồng ý giao con chung Nguyễn Phước N, sinh ngày 17/02/2002 cho chị M nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh K không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Toa an giai quyết.

Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị M: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, nhưng bị đơn không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tòa án triệu tập hợp lệ bị đơn 02 lần để tham gia tố tụng tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bị đơn vắng mặt. Vì vậy, Tòa án đã lập biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; biên bản không tiến hành hòa giải được và thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để đưa vụ án ra xét xử.

Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

- Về tố tụng: Việc Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền. Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn đã thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn chị Nguyễn Thị M chưa chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Đăng K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn và nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn là chị M có địa chỉ ấp Phương H, xã Hưng P, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc T, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Tú thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2] Về tố tụng: Tòa án triệu tập hợp lệ nguyên đơn anh Nguyễn Đăng K để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm, nhưng nguyên đơn anh Nguyễn Đăng K có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ điểm a khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn anh Nguyễn Đăng K.

Tòa án triệu tập hợp lệ bị đơn chị Nguyễn Thị M đến lần thứ hai để tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm, nhưng chị M vắng mặt không có lý do. Vì vậy, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn chị Nguyễn Thị M.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Đăng K và chị Nguyễn Thị M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Hưng P, huyện Mỹ T, tỉnh Sóc T và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 22 ngày 05/8/1999. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh K và chị M là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình thì anh K có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị M.

[4] Xét lý do xin ly hôn của anh K, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sau khi kết hôn anh K và chi M chung sống với nhau có 01 người con chung. Tuy nhiên, anh K và chị M thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cuộc sống không hạnh phúc, từ đó vợ chồng thường xuyên cự cãi, hiện nay mỗi người sống một nơi, không quan tâm, chăm sóc cho nhau, làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Toà án cũng triệu tập anh K và chị M 02 lần để hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ, nhưng chị M không có mặt để Tòa án hòa giải đoàn tụ. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa anh K và chị M đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh K.

[5] Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân anh K và chị M có 01 người con chung tên Nguyễn Phước N, sinh ngày 17/02/2002, hiện nay sống với chị M. Anh K đồng ý giao con chung cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Xét thấy, từ khi anh chị không còn sống chung với nhau cháu N do chị M nuôi dưỡng, cuộc sống đã ổn định về mặt vật chất cũng như tinh thần. Tòa án ghi ý kiến cháu N, nếu như anh K và chị M ly hôn cháu N có nguyện vọng sống chung với chị M. Xuất phát từ lợi ích mọi mặt cháu N. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục giao Nguyễn Phước N, sinh ngày 17/02/2002 chị M nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành.

[6] Về nghĩa vụ, quyền của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn. Căn cứ khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình. Anh K là người không trực tiếp nuôi cháu N, nên anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, mà không ai được cản trở.

[7] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị M nuôi con nhưng không có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[8] Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

[9] Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về án phí:  Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh K là người có đơn xin ly hôn, anh K phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; khoản 2 Điều 81 và khoản 3 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Nguyễn Đăng K và chị Nguyễn Thị M.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Phước N, sinh ngày 17/02/2002 cho chị M tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con.

Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, anh K không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Đăng K phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009963 ngày 06/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy anh K nộp đủ án phí sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trinh tư phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.


47
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 22/2018/HNGĐ-ST ngày 06/09/2018 về tranh chấp ly hôn và nuôi con

Số hiệu:22/2018/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mỹ Tú - Sóc Trăng
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành:06/09/2018
Là nguồn của án lệ
    Bản án/Quyết định sơ thẩm
      Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về