Bản án 221/2019/HNGĐ-ST ngày 18/04/2019 về tranh chấp xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CT - TỈNH TIỀN GIANG

BẢN ÁN 221/2019/HNGĐ-ST NGÀY 18/04/2019 VỀ TRANH CHẤP XIN LY HÔN

Ngày 18 tháng 4 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2019/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 01 năm 2019 về tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Hữu Thị Thu H, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp Đường Đào, xã Hồ Thị K, huyện TB, tỉnh Cà Mau (Có mặt).

- Bị đơn: Lê Hoàng P, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Ấp Đ, xã KS, huyện CT, tỉnh Tiền Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị Hữu Thị Thu H trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh P tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào ngày 26/4/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Hồ Thị K. Thời gian đầu sống hạnh phúc, đến khoảng cuối năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, giữa vợ chồng không hòa hợp nên thường xuyên cãi vã, nên đã sống ly thân từ cuối năm 2016 đến nay. Nay yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh P.

- Về con chung: Có một con chung tên Lê Hữu Thái H1 (Sinh ngày 19/5/2016) hiện do chị nuôi dưỡng. Nay chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu H1.

- Về cấp dưỡng: Không yêu cầu tòa giải quyết.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa giải quyết.

* Bị đơn anh Lê Hoàng P đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý, bản sao đơn kiện và tài liệu chứng cứ của nguyên đơn, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt, không có ý kiến.

* Tại phiên tòa, Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đã thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng; Nguyên đơn, bị đơn: Thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị H được ly hôn với anh P; Giao con chung cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Theo yêu cầu khởi kiện của chị H thì xác định đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo qui định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh P đã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai vẫn vắng mặt, căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh P.

[2] Về hôn nhân: Chị H và anh P tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn vào ngày 26/4/2016 tại Ủy ban nhân dân xã Hồ Thị K, nên hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp.

Theo chị H khai nhận: Sau khi cưới nhau chỉ hạnh phúc trong thời gian ngắn, đến khoảng cuối năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, giữa vợ chồng không hòa hợp nên thường xuyên cãi vã, nên đã sống ly thân từ cuối năm 2016 đến nay.

Theo kết quả xác minh của Tòa thì quan hệ vợ chồng giữa chị H và anh P đã phát sinh mâu thuẫn từ cuối năm 2016 và đã sống ly thân cho đến nay. Điều đó cho thấy lời khai của chị H là có cơ sở vì phù hợp với kết quả xác minh. Xét thấy giữa chị H và anh P đã ly thân trong thời gian dài nên tình cảm vợ chồng khó có khả năng hàn gắn. Anh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không đến Tòa án để hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng, điều đó cho thấy anh P cũng không mong muốn đoàn tụ với chị H. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H, cho chị H được ly hôn với anh P.

[3] Về con chung: Xét thấy, cháu Lê Hữu Thái H1 hiện do chị H nuôi dưỡng từ lúc mới sinh đến nay và cháu H1 dưới 36 tháng tuổi. Để đảm bảo sự phát triển bình thường của cháu H1, cần giao cháu H1 cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng.

[4] Về cấp dưỡng: Các đương sự không yêu cầu Tòa giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[5] Về tài sản: Các đương sự không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng không xem xét trong vụ kiện này.

[6] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì chị H phải chịu 300.000đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[7] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử: Chp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

1. Về hôn nhân: Chp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, chị Hữu Thị Thu H được ly hôn với anh Lê Hoàng P.

2. Về con chung: Giao cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Lê Hữu Thái H1 (Sinh ngày 19/5/2016).

Anh P được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.

3. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0009217 ngày 07/01/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện CT, nên xem như đã nộp xong án phí.

4. Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

77
Bản án/Quyết định được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Quyết định đang xem

Bản án 221/2019/HNGĐ-ST ngày 18/04/2019 về tranh chấp xin ly hôn

Số hiệu:221/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Thành - Tiền Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 18/04/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Quyết định sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Quyết định liên quan cùng nội dung
Bản án/Quyết định phúc thẩm
Mời bạn Đăng nhập để có thể tải về